Pages

Thứ Năm, 22 tháng 9, 2011

VIÊM GAN SIÊU VI C

Viêm gan siêu vi C ảnh hưởng đến hơn 180 triệu người trên toàn thế giới. Hầu hết các bệnh nhân không có triệu chứng cho đến khi bệnh diễn tiến đến giai đoạn cuối, sàng lọc, chẩn đoán đánh giá nên được thực hiện ở những người có hành vi nguy cơ cao liên quan với lây bệnh viêm gan C. Viêm gan C  liên quan đến xơ gan, suy gan, và chết, vì vậy điều trị để nhằm mục đích giảm các biến chứng này, cũng như cải thiện chất lượng cuộc sống và giảm thiểu tác dụng phụ. Hướng dẫn thực hành của Hiệp hội nghiên cứu bệnh gan Mỹ(AASLD), Châu Âu(EASL) Châu Á-Thái Bình Dương(APASL) tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán, quản lý và điều trị viêm gan C. Phác đồ chuẩn điều trị viêm gan C peginterferon alfa kết hợp với ribavirin. Hiện nay, hai sản phẩm pegylated interferon được cơ quan quản lý dược và thực phẩm Mỹ(FDA) phê duyệt để điều trị viêm gan C. Thời gian điều trị với peginterferon ribavirin được quyết định bởi kiểu gen của virus và kiểu đáp ứng virus. Các phương pháp điều trị mới đang được nghiên cứu để điều trị bệnh viêm gan C mãn tính cho thấy nhiều hứa hẹn về hiệu quả và ít tác dụng phụ hơn. Quan tâm tới những nhóm bệnh nhân đặc biệt và có hướng dẫn quyết định điều trị: Như các bệnh nhân đồng nhiễm với virus suy giảm miễn dịch, những người có bệnh thận giai đoạn cuối, người sử dụng tiêm chích ma túy, phụ nữ mang thai trẻ em.

GIỚI THIỆU

Virus viêm gan C (HCV) là virus  một sợi đơn RNA, HCV lây truyền  phổ biến nhất là qua đường máu, cũng có thể lây qua châm cứu, xăm mình, dùng bàn chải chung, dùng dao cạo râu chung, một tỉ lệ thấp (5%) lây qua đường tình dục, mẹ truyền qua con. Lây qua làm răng, nhổ răng, cạo vôi răng ở cơ sở nha khoa không bảo đảm về mặt khử trùng. Lây từ bệnh nhân này qua bệnh nhân khác trong bệnh viên qua các con đường nội soi đại tràng, chạy thận nhân tạo, phẫu thuật ở những cơ sở y tế không bảo đảm về mặt khử trùng. Viêm gan virus C không lây qua nước bọt, đường ăn uống, đường hô hấp. Viêm gan siêu vi C đã chính thức công nhận vào năm 1989 trước đó đã được gọi viêm gan  không-A, không- B. Hầu hết bệnh nhân bị viêm gan C cấp tính sẽ bị nhiễm  mãn tính.
Tỷ lệ mắc bệnh viêm gan C cấp tính đã giảm từ những năm 1980 những năm 1990 đã ổn định kể từ năm 2003, thể là kết quả của giáo dục và nâng cao nhận thức các yếu tố nguy cơ lây truyền
, sàng lọc máu thường quy được thực hiện vào năm 1992, cũng đã góp phần giảm tần số nhiễm HCV.

HẬU QUẢ LÂU DÀI

Xơ gan, suy gan, ung thư biểu mô tế bào gan là những biến chứng có thể có của bệnh viêm gan C mãn tính. Khoảng 20-30% bệnh nhân viêm gan C mạn tính sẽ tiến triển đến xơ gan trong vòng 20 năm. Những yếu tố có thể làm tăng nhanh diễn tiến của bệnh như nghiện rượu, suy giảm miễn dịch, tình trạng ứ sắt, đồng nhiễm virus hướng gan khác, giới tính, và tuổi. Viêm gan siêu vi mãn tính một nguyên nhân hàng đầu gây ung thư biểu mô tế bào gan và là một trong những lý do phổ biến nhất cho việc ghép gan. Theo ước tính 12.000 ca tử vong / năm là kết quả của bệnh gan mãn tính do bệnh viêm gan C.

TRIỆU CHỨNG

Hầu hết các bệnh nhân bị nhiễm viêm gan C mn tính  không có triệu chứng hoặc có thể có các triệu chứng không đặc hiệu như mệt mỏi hay khó chịu trong trường hợp không rối loạn chức năng gan. Bệnh nhân xơ gan mất bù do bệnh viêm gan C có các triệu chứng giống như bệnh nhân bị bệnh gan mất bù khác, chẳng hạn như  rối loạn giấc ngủ ngứa.

Các triệu chứng đặc trưng các biến chứng của bệnh gan tiến triển hoặc có liên quan đến rối loạn chức năng
gan tăng áp tĩnh mạch cửa. Bao gồm các thay đổi trạng thái tâm thần (bệnh não do gan), phù mắt cá chân, chướng bụng (cổ trướng), nôn ra máu hoặc tiêu phân đen (do dãn vỡ tĩnh mạch thực quản).

XÉT NGHIỆM

-          Anti-HCV (ELISA) : dương tính

-          Xét nghiệm định tính HCV-RNA bằng kỹ thuật khuếch đại mục tiêu(PCR, TMA):

• Amplicor Hepatitis C Virus Test, version 2.0 (Roche Molecular Systems; Pleasanton, Calif) - PCR với giới hạn phát hiện thấp nhất là 50 IU/mL

• Cobas Amplicor, version 2.0 (Roche Molecular Systems; Branchburg, NJ) – PCR với giới hạn phát hiện thấp nhất là 50 IU/mL.

• Versant HCV RNA Qualitative Assay, (Bayer HealthCare; Tarrytown, NY) - TMA với giới hạn phát hiện thấp nhất là 9.6 IU/mL.

-          Xét nghiệm định lượng HCV RNA trong máu bằng phương pháp khuếch đại tín hiệu (branched  DNA [bDNA]) hoặc kỹ thuật khuếch đại mục tiêu (PCR, TMA). Số lượng HCV RNA trong máu giúp dự đoán khả năng đáp ứng điều trị, và sự thay đổi số lượng HCV RNA trong quá trình điều trị được sử dụng để theo dõi đáp ứng điều . Các lần xét nghiệm định lượng này nên làm cùng một kỹ thuật để tránh nhầm lẫn, và kết quả xét nghiệm nên được tính bằng đơn vị quốc tế (IU) để chuẩn hóa dữ liệu. Kỹ thuật khuếch đại tín hiệu branched DNA có giải phát hiện rộng từ  615 - 7,700,000 IU / mL.

-          Biến thể gen IL28B được phát hiện bằng phương pháp PCR là một yếu tố dự đoán độc lập, bất kể loại genotype.

-          HCV genotype : để dự đoán khả năng thành công của điều trị, và thời gian điều trị bao lâu. Có 6 genotype khác nhau, genotype 1,4, 6 có khả năng đáp ứng với điều trị thấp hơn là genotype 2,3. Thời gian điều trị cho genotype 1, 4,6 là 48 tuần, còn đối với genotype 2, 3 thì thời gian điều trị thường là 24 tuần. Rõ hơn ở bài số lượng vi rút viêm gan c và genotype, và bài viêm gan siêu c và các loại genotype.

-          Đánh giá chức năng gan :

·         ALT, AST, Bilirubin

·         GGT, Phosphatase kiềm

·         Định lượng Albumin

·         INR

·         Điện di protein

·         AFP

-          Đánh giá chức năng thận :

·         BUN, Creatinin

·         Độ lọc cầu thận (GFR)

-          Đánh giá chức năng tuyến giáp :

·         TSH

·          FT3

·          FT4

-          Đếm tế bào máu ( Công thức máu )

-          Đường máu

-          ANA

-          Siêu âm bụng

-          XQ ngực thẳng

-          Đo điện tâm đồ

-          Đo điện tâm đồ

ĐIỀU TRỊ

Mục tiêu của điều trị bệnh viêm gan C mãn tính là đạt được âm tính lâu dài của HCV(SVR), được định nghĩa là âm tính lâu dài của HCV RNA trong huyết thanh 6 tháng trở lên sau khi kết thúc điều trị bằng thuốc kháng virus, và  ngăn chặn sự tiến triển đến xơ gan, ung thư gan, và bệnh gan mất bù cần phải ghép gan.

Ở tuần thứ 4 của quá trình điều trị bệnh nhân nên được làm xét nghiệm định lượng HCV RNA để xác nhận có đáp ứng nhanh hay không ? Nếu có đáp ứng nhanh thì dự đoán thành công của điếu trị sẽ tăng lên. Ở tuần thứ 12 của điều trị, bệnh nhân nên được lặp lại định lượng HCV RNA để đánh giá đáp ứng virus sớm, xét nghiệm đánh giá có rối loạn chức năng tuyến giáp liên quan đến IFN hay không?  Nếu nồng độ HCV RNA  không thể phát hiện hoặc giảm lớn hơn 2-log so với nồng độ HCV RNA ban đầu thì điều trị nên được tiếp tục bởi vì, theo Fried et al, đến 65% bệnh nhân sẽ có đáp ứng virus kéo dài( SVR). Ngược lại, nếu không có đáp ứng virus sớm thì  điều trị nên được ngừng lại, bởi vì cơ hội đáp ứng virus kéo dài là ít hơn 3%.
Trong những bệnh nhân không có đáp ứng virus kéo dài nhưng lại có cải thiện về mức độ xơ hóa.

Định lượng HCV RNA nên được kiểm tra lại 6 tháng sau khi hoàn thành điều trị, và nếu phát hiện, bệnh của bệnh nhân đã tái phát và cần được xem xét một điều trị thay thế. Nếu HCV RNA không thể phát hiện và kết quả kiểm tra vẫn còn âm tính thì bệnh nhân đã có đáp ứng virus kéo dài(SVR).
Điều trị kháng virus cho bệnh nhân viêm gan C có anti-HCV dương tính, có HCV RNA trong huyết thanh, có kết quả sinh thiết gan phù hợp với viêm gan mạn tính, mặc dù sinh thiết có thể không cần thiết, và không có chống chỉ định với điều trị.



Việc điều trị viêm gan C đã phát triển trong những năm qua. Hiện tại có hai phác đồ điều trị :

-          Interferon (IFN) tiêm(chích)dưới da tuần 3 mũi phối hợp uống Ribavirin

-          Peginterferon(PegIFN) tiêm(chích) dưới da tuần 1 mũi phối hợp với uống Ribavirin.

Hiện nay cơ quan quản lý thuốc và thực phẩm Mỹ (FDA) đã chấp nhận 2 thuốc uống ức chế men protease là Telaprevir và Boceprevir thêm vào phác đồ điều trị PegIFN và Ribavirin để thành một phác đồ 3 loại thuốc. Nhưng hiện nay chưa có bất kỳ hướng dẫn thực hành lâm sàng nào của các hiệp hội gan mật Mỹ, Châu Âu, hay Châu Á-Thái Bình Dương phát hành phác đồ 3 loại thuốc này.

Chi phí cho Telaprevir(Incivek) hay Boceprevir(Victrelis) thì khoảng 1000 UDS cho 1 tuần.


Tác dụng phụ của điều trị thì rất nhiều và có nhiều nguy cơ, có thể đe dọa tính mạng, vì thế khi điều trị cần được theo dõi một cách cẩn thận các tác dụng phụ và đáp ứng điều trị bởi bác sĩ.
Xem thêm :- VIÊM GAN SIÊU VI C VÀ CÁC PHƯƠNG ÁN ĐIỀU TRỊ
                             - TÔI BỊ VIÊM GAN SIÊU VI C

Mọi thắc mắc vui lòng xin liên hệ : 0973332733

Hiện tại Bs Hùng có Incivek 375mg, ai có nhu cầu xin liên hệ theo số điện thoại ở trên.



Thứ Tư, 21 tháng 9, 2011

DIỂN BIẾN CỦA VIÊM GAN VI RÚT C

Trong 100 người bị nhiễm vi rút viêm gan C thì sẽ có khoảng 80 người trở thành mang vi rút viêm gan C mạn tính, còn 20 còn lại cơ thể của họ đẩy được vi rút ra khỏi cơ thể.

Trong 80 người mang vi rút viêm gan C mạn tính sẽ có khoảng 20 người trở thành bệnh xơ gan.

Có khoảng 2 đến 3 người sẽ trở thành ung thư gan.

Mọi thắc mắc vui lòng xin liên hệ : 0973332733

Thứ Tư, 21 tháng 7, 2010

VIÊM GAN SIÊU VI B MẠN TÍNH CÓ CHỮA KHỎI KHÔNG?

Hậu quả của bệnh viêm gan siêu vi B mạn tính là các bệnh gan giai đoạn cuối như xơ gan, ung thư gan…nếu không được điều trị.
Như vậy một câu hỏi lớn đặt ra là “Có điều trị khỏi bệnh viêm gan siêu vi B mạn tính không???”
Hiện nay có rất nhiều loại thuốc được chấp nhận để điều trị bệnh viêm gan siêu vi B như Peginterferon alfa 2a, Interferon alfa 2b, lamivudine, adefovir, entecavir, telbivudine và tenofovir. Các thuốc đồng phân nucleotides kiểm soát sự tăng sinh siêu vi rất tốt. Nhưng khi ta ngưng thuốc thì siêu vi tăng sinh trở lại, ngay cả những bệnh nhân đã mất HBsAg trong quá trình điều trị. Do đó, mặc dù bệnh viêm gan B có thể được kiểm soát với các thuốc này, nhưng hiếm khi, và dường như không bao giờ chữa khỏi. Lời giải thích có lẽ nằm ở một dạng siêu vi được gọi là "DNA vòng đóng đồng hoá trị (cccDNA)," nó đóng một vai trò then chốt trong sự tồn tại kéo dài, dai dẳng của siêu vi và kích hoạt lại siêu vi sau khi ngưng điều trị.

Thế cccDNA là gì ?cccDNA của virus viêm gan tạo thành một hình thức ổn định của bộ gen DNA của siêu vi.
cccDNA tồn tại trong nhân tế bào gan bị nhiễm như là một minichromosome không đầy đủ hoặc episome, nó hoạt động như một khuôn mẫu cho các phiên mã gen của siêu vi. Số lượng copies của cccDNA trong tế bào có sự biến động, nhưng nói chung khoảng từ 10 -50 copies / tế bào.

Làm thế nào để cccDNA được sản xuất và duy trì?
Các cccDNA được sản xuất trong quá trình sao chép siêu vi. Mặc dù HBV là một siêu vi DNA một phần sợi kép, nó sao chép thông qua trung gian của RNA bằng cách sử dụng men polymerase có hoạt tính sao chép ngược. Sao chép của HBV chủ yếu xảy ra ở trong tế bào gan [2] Sau khi thâm nhập vào tế bào, siêu vi cởi bỏ lớp vỏ protein của nó, và chuỗi DNA duỗi ra, bộ gen chuỗi đôi chưa đầy đủ được vận chuyển vào trong nhân.. [2] Trong nhân, polymerase của iêu vi và của ký chủ sửa chữa và duỗi ra,phần gen không đầy đủ trở nên hoàn chỉnh thành bộ gen sợi kép,và uốn tròn thành bộ gen đồng hoá trị là cccDNA.
cccDNA hoạt động như bản mẫu để sao chép của tất cả các RNA thông tin (mRNA). Sau khi tổng hợp, các mRNA được vận chuyển đến tế bào chất, tại đây các protein siêu vi được tổng hợp thông qua quá trình giải mã, các nucleocasid được lắp ráp, và sẽ hình thành các siêu vi mới. Vậy cccDNA được xem như một khuôn mẫu sản xuất các siêu vi mới.

Vì thế cccDNA như là mục tiêu điều trị:
cccDNA của HBV là mục tiêu điều trị vì nó đóng vai trò quan trọng trong sự nhân lên của siêu vi và sự tồn tại dai dẳng của nó. Các loại thuốc uống ức chế men polymerase của siêu vi nhưng không ức chế con đường quay ngược lại trong nội bào của siêu vi để sinh ra cccDNA. Như vậy sự nhân lên của siêu vi sẽ quay lại với số lượng cao như trước khi điều trị khi ngưng các thuốc này. Sử dụng nhiều kỹ thuật phân tử, các nghiên cứu kiểm tra thay đổi lượng cccDNA ở bệnh nhân điều trị một mình với thuốc uống nucleos (t) ide, hoặc kết hợp với Peginterferon, đã chứng minh giảm cccDNA ở mức 1,0-2,4 log10 bản sao / tế bào, nhưng không sạch hết, so với các hình thức DNA khác của siêu vi B trong tế bào gan.
Dựa trên những dữ liệu này, dùng mô hình toán học dự đoán rằng phải cần lâu hơn 14 năm để sạch hoàn toàn cccDNA trong nội bào ở một người nhiễm HBV mạn tính. Ý nghĩa lâm sàng của phát hiện này là khi dùng thuốc uống nucleos (t)ide thì phải sử dụng trong thời gian dài, nếu không muốn nói là vô thời hạn. Mục tiêu “chữa khỏi bệnh " viêm gan B bằng các thuốc uống nucleos(t)ide hiện có thì không thể bởi vì các thuốc này không thể có tác dụng ức chế siêu vi kéo dài hoài được, và cũng không thể thải trừ hết cccDNA trong tế bào gan.

Mọi thắc mắc vui lòng xin liên hệ : 0973332733

Thứ Sáu, 13 tháng 11, 2009

TÔI BỊ VIÊM GAN C

Tôi xin anh Tánh đăng lại bài này theo như :" Mục đích của người viết bài nầy là để gây thêm chú ý (awareness) của cộng đồng chúng ta về căn bệnh nguy hiểm nầy. Tôi là một trong những "cựu chiến binh" viêm gan C may mắn, đang được hưởng hạnh phúc bên gia đình cùng vợ và hai con thân yêu của tôi. Sau cơn mưa trời lại sáng. Trải qua những "khổ nạn" như vầy, tôi thấy mình trưởng thành hơn, nhất là trân quý cái gia đình tôi đang có"


Tiếng điện thoại reo vang, theo thói quen tôi nhấc điện thoại lên sau tiếng reo thứ nhì. "Hello, xin lỗi ai ở đầu dây đó?" tôi hỏi. Bên đầu dây bên kia cho biết là bác sĩ M.M. Ông gọi cho tôi để yêu cầu tôi ngưng uống thuốc trị tiểu đường Actos vì Actos không thích hợp cho người bị bệnh viêm gan, và nó đã có phần nào tác hại cho gan. Kết quả thử máu lần nầy của tôi cho thấy là hai chất men gan ALT và AST của tôi lên khá cao. Như vậy chức năng gan của tôi có vấn đề. Tôi được bác sĩ gửi đi thử nghiệm thêm về gan lần nữa, và kết quả cho biết là tôi bị viêm gan C (hepatitis C). Khi nghe qua, tôi cũng hoang mang, lo lắng và không biết nặng nhẹ cỡ nào. Đó là mùa hè năm 2001. Tôi được giới thiệu một bác sĩ nội khoa (internal medicine) có chuyên ngành về đường ruột và bao tử (gastroenterology). Ông nầy không ai xa lạ là vị bác sĩ tôi đã tín nhiệm trong 8 năm qua. Theo hồ sơ của văn phòng bác sĩ nầy thì tôi đã được chẩn đoán là trong gan tôi đã có vi khuẩn (virus) C từ năm 1994, nhưng không biết lá gan của mình đang ở giai đoạn nào. Đây là một điển hình vì tôi thiếu kiến thức căn bản, tánh mạng mình có thể không được an toàn. Tôi hoàn toàn không có một ký ức nào về dữ kiện nầy và tôi cũng không nhớ là bác sĩ có khuyên dặn gì tôi không. Bác sĩ tôi cũng không căn dặn kiêng cử gì hết, và cũng không khuyên tôi nên theo dõi hàng năm bằng cách thử máu. Vì không hiểu rõ sự tác hại của chứng bệnh này nên tôi đã để 8 năm âm thầm lặng lẽ trôi qua.


Thời gian cứ mãi trôi dần, tôi vẫn cứ "lai rai" một ly, hai ly... mỗi cuối tuần sau vài tiếng đồng hồ chơi quần vợt với bạn bè. Sau khi khám phá lần thứ hai về bệnh viêm gan C, tôi đã đổi qua bác sĩ khác. Khi nghe tôi bị viêm gan C, cậu em vợ (Nguyễn Hải Tuấn, bác sĩ giải phẫu) và vợ của cậu ta (Nguyễn Thùy Anh, bác sĩ gia đình), đều có khuyên tôi nên lo trị liệu bằng thuốc tây càng sớm càng tốt vì Thùy-Anh đã từng chữa trị cho một số bệnh nhân bị viêm gan C. Trong thời gian trị liệu của tôi, Ba Mẹ vợ của tôi giúp "trông em bé bị bệnh" trong lúc bà xã tôi lo đi "kiếm cơm"; vợ chồng cậu em vợ là N.H. Tuấn và Thùy-Anh cũng luôn thăm hỏi, và sẵn sàng đến khám nghiệm khi cần đến, và cố vấn tôi về kiến thức và thủ tục y khoa. Tôi còn nhớ rõ ngày đầu tiên, Thùy-Anh có lời khuyên "cảnh báo" với tôi rằng: "Từ rày trở đi, tuyệt đối anh không được uống một giọt rượu nào cả!" Sau đó Thùy-Anh có phân trần là vì lo cho tôi nên có những lời như thế, mong tôi đừng giận. Tôi thực sự ghi tâm về lời khuyên của Thùy-Anh nên tôi quyết định "dứt sửa" cái tật "lai rai" kể từ ngày đó cho đến nay vì "sức khỏe là vàng", có tiền cũng không mua được. Tôi thật sự thấm thía về câu nầy nên trong hai năm dài lo chạy chữa đủ mọi loại thuốc. Ai mách gì tôi cũng thử ít nhất là 3 tháng, xong rồi đi thử máu xem có khả quan gì không. Giai đoạn dùng thuốc phương đông đã kéo dài trong 18 tháng nhưng không có kết quả. Do đó tôi đành phải quyết định sự chữa trị bằng thuốc tây; chuẩn bị tinh thần để bước vào chông gai mà tôi đã cố tránh né trong một thời gian dài.


Học được bài học "bệnh của mình, mình không lo thì ai lo cho mình đây", ngay cả bác sĩ của mình cũng chưa chắc gì lo chu đáo cho mình. Có chút kiến thức về máy vi tính, chút ít hiểu biết về cách tìm kiếm thông tin, tin tức trên mạng lưới Internet, tôi đã bỏ ra hằng trăm giờ để tìm hiểu thêm về bệnh viêm gan C, như nó từ đâu ra, nó lây lan như thế nào, sức tàn phá của nó nhanh hay chậm, mãnh liệt hay âm thầm mà giết người không hay, v...v.


Lúc đầu tôi nghĩ là chỉ có một loại vi khuẩn viêm gan C thôi, nhưng quý vị có biết là có bao nhiêu loại (genotypes) không? 11 loại chính, và tổng cộng là 22 loại kể cả loại phụ, mỗi loại có đặc tính riêng của nó. Xuất xứ của chúng là từ những quốc gia rải rác trên khắp hoàn cầu. Sự lây truyền chính của nó là từ máu qua máu. Những cách bị lây truyền thường xảy ra là dùng chung kim như cách chích ma túy, cần sa, hoặc dụng cụ y khoa không được khử trùng (như ở Việt Nam trước đây thường dùng một kim chích cho nhiều người khác nhau), hoặc từ mẹ truyền cho con trong lúc sanh nở, hoặc hiếm hơn là qua dao cạo, kéo cắt da tay, hoặc truyền máu có vi khuẩn (việc nầy rất hiếm vì sau khoảng 1994 các cơ quan nhận hiến máu dùng kỷ thuật tân tiến để loại ra được vi khuẩn viêm gan C).


Sau khi biết được phương pháp trị liệu bằng thuốc tây sẽ gây ra nhiều phản ứng phụ như vậy, tôi đành phải quay trở về phương pháp trị liệu mà đa số đồng hương ta đều ưa chuộng, đó là thuốc bắc và thuốc nam. Bác tôi ngày xưa cũng là một danh y thuốc nam ở thành phố Long Hoa, Tây Ninh. Mỗi hè về thăm Nội, Ngoại, gia đình tôi cũng đều ghé thăm bác, và mỗi lần như thế tôi được "thưởng" chừng 20 đến 30 thang thuốc nam. Nhờ đó mà tôi uống thuốc nam họăc thuốc bắc như uống "cà phê"; nó chỉ "dỡ" hơn cà phê Starbucks thôi!


Tôi đã uống thuốc nam và thuốc bắc của 3 vị thầy ở thành phố Little Sàigòn và một danh y ở Việt Nam, ở những thời điểm khác nhau. Sau 12 tháng rồng rã, người uống thuốc như uống cà phê bắt đầu sợ mùi thuốc. Con bệnh sợ thuốc là sự đương nhiên, vậy mà người nấu thuốc cũng sợ luôn. Mỗi ngày bà xã tôi xử dụng loại nồi nấu thuốc bắc bằng điện và tự động tắt khi cạn vừa đủ để uống, nấu và ngửi mùi thuốc mãi "nàng" cũng sợ luôn.


Sau 12 tháng dài vật lộn với những chén thuốc bắc mà tôi hay gọi đùa là "cà phê" cữ sáng và cữ tối, và 6 tháng nhai những "viên kẹo" thuốc tể khó nuốt, nhưng số vi khuẩn mỗi ngày mỗi tăng thêm. Thấy tình trạng của mình không mấy khả quan, tôi quyết định lấy toa bác sĩ đã cấp cho tôi lâu rồi để mua thuốc chích Pegasys và thuốc uống Ribavirin. Lúc đó là tháng 5, 2003, thuốc còn tương đối mới và vì do một hãng độc quyền nên khan hiếm, do đó thường phải đợi từ một tuần, có khi đến cả tháng mới có thuốc.


Sau hai tuần đặt mua, thuốc đã về đến thì một sự kiện rất lý thú xảy ra. Tôi tình cờ gặp một cậu em quen ở đối diện nhà, cùng đến hốt thuốc bắc của một ông thầy ở Anaheim như tôi. Cậu ta cho biết là mẹ của cậu cũng được chẩn bệnh là có vi khuẩn viêm gan C, nhưng nhờ uống thuốc của một ông thầy ở Mỹ Tho, Việt Nam, bây giờ khỏi bệnh rồi. Như người chết đuối vớ gặp cái phao, tôi tức thì chạy về nhà của cậu em, gặp mẹ cậu là bác Mười để xin số điện thoại và địa chỉ của ông thầy ở Việt Nam. Cũng trong thời điểm nầy, một tình cờ nữa là nhạc mẫu của tôi cũng mới quen biết được một ông dược sĩ trong nhóm tu thiền cũng "được" chữa hết bệnh do cùng một ông thầy ở Mỹ Tho. Tuy nhiên, sau đó không lâu thì nhạc mẫu tôi cho hay là ông dược sĩ đó đã qua đời; có lẽ ông ta ỷ y là bệnh mình hết rồi nên không theo dõi kỹ bệnh trạng của mình, nhưng các con vi khuẩn HCV vẫn luôn âm thầm tiêu diệt lá gan của ông mà ông không hay. tiến bước trên bước đường xâm lăng của chúng như bọn Cộng Sản nằm vùng. Một lần nữa, tôi và vợ tôi sẵn sàng xếp số thuốc tây, đã mua đủ dùng trong 3 tháng trị giá $6,000.00, vào tủ lạnh.


Thế là tôi tức tốc gọi về cho gia đình của tôi ở Cần-Thơ để chạy lên Mỹ Tho hốt thuốc cho tôi. Thật là may cho tôi là bác Mười có người con đi Việt Nam chơi và sắp quay lại Los Angeles. Đi từ cái may nầy đến cái may khác, trong vòng hai tuần là tôi có được thuốc từ Việt Nam đủ để uống cho 4 tháng đầu. Đây là những viên thuốc tể, mỗi viên được làm bằng tay và bọc bằng bao ni-long thật là công phu. Đặc biệt là ông thầy nầy quý những viên thuốc của mình làm ra nên không thích cho gia đình mình gửi thuốc bằng bưu điện vì lỡ bị mất thì ông ta tiếc lắm. Lúc đầu tôi tưởng bở, nghĩ rằng thuốc tể nầy có lẽ cũng giống như những viên thuốc tể ngày xưa mà tôi ăn ké với Mẹ hoặc Ngoại. Có ai ngờ đầu, mỗi tuần là một gói khác nhau, có gói khó nhai, khó nuốt gấp 10 lần uống một chén thuốc bắc. Thêm vào đó, mỗi hai hay ba tuần phải uống thuốc xổ do ông đặc chế, để xổ chất độc ra. Mỗi lần xổ là mỗi lần tôi đau oằn oại, toát mồ hôi hột, và cơ thể lạnh cóng như nằm trong phòng ướp lạnh vậy.


Theo thông lệ, cứ uống thuốc được 3 tháng là tôi xin giấy bác sĩ đi thử nghiệm máu. Kết quả thật là khả quan và khích lệ! Chất men gan ALT và AST của tôi trở lại bình thường, và số vi khuẩn trong máu (viral load) tôi tuột xuống hơn 95%, số vi khuẩn đã giảm từ 14,000,000 còn 800,000 trong một mili-lít máu. Đối với tôi, cả hai kết quả về men gan và số lượng vi khuẩn đều quan trọng. Mỗi 3 tháng thử nghiệm máu, tôi đều xin bác sĩ cho làm thử nghiệm RNA để biết được số lượng vi khuẩn đi lên hay đi xuống. Tuy nhiên mỗi lần thử nghiệm loại nầy nó tốn khoảng $200-$300, và mất khoảng 7-10 ngày mới nhận được kết quả của loại thử nghiệm nầy. Theo kinh nghiệm bản thân, bác sĩ đầu tiên của tôi không đá động gì đến việc thử nghiệm kể trên. Được tin vui trên, cả nhà tôi ở Việt Nam và bên vợ tôi ở Nam California và Texas đều mừng chảy nước mắt. Tinh thần tôi lúc lên cao như diều gặp gió vậy. Vì kết quả quá khả quan trong 3 tháng đầu, nên dù thuốc có đắng hay đau đớn khi xổ độc đến đâu, tôi cũng phải cố gắng hết sức mình. Các cụ xưa có nói "thuốc đắng giã tật". Tôi tiếp tục thêm 3 tháng gian truân nữa, và tôi lại đi thử máu một lần nữa. Nhưng than ôi! kết quả thử máu lần nầy làm cho mọi người đều bí xị. Tin vui của 3 tháng trước đột nhiên tan biếng như bọt biển. Số vi khuẩn kỳ nầy vọt từ 800,000/ml lên tới 6,000,000/ml. Thế là tôi quyết định lôi đống thuốc tây đã mua cách nay 6 tháng để thử một cuộc hành trình mới. Bà xã tôi nghe tôi kể những biến chứng và các phản ứng phụ, cô ta không muốn thấy tôi bị hành xác như vậy. Nhưng tôi quan niệm là còn nước thì tôi còn tát nên "nàng" cũng đành chìêu lòng tôi,


Trước khi bác sĩ quyết định "cấp passport" cho bạn "đi thám hiểm", thông thường một số bác sĩ muốn bạn làm thêm hai thủ tục y khoa nữa. Thủ tục y khoa thứ nhất là đâm kim lấy mẫu tế bào trong gan (liver biopsy) để biết tình trạng của lá gan của mình ở thời kỳ thứ mấy và giai đoạn nào. Thủ tục nầy được làm tại bệnh viện vì chỉ có bệnh viện mới có đầy đủ vật liệu và dụng cụ y khoa để phòng khi bị xuất huyết nội tạng. Mẫu thử nghiệm tế bào gan của tôi cho biết là tôi bị sơ gan (fibrosis). Tình trạng xơ gan của tôi là thời kỳ thứ 3 (trong 4 thời kỳ). Sau sơ gan là chai gan (cirrhosis), và nó cũng có thể trở thành ung thư (cancer). Thủ tục y khoa kế tiếp là làm siêu âm (ultrasound) ở phần bụng (abdomen) để xem gan và những bộ phận khác có gì bất bình thường không. Sau khi đọc các kết quả thử nghiệm về y khoa, bác sĩ cho tôi biết là trường hợp tôi vẫn còn nhiều hy vọng lắm, và tuổi tôi vẫn còn "gân" để có thể "thoát hiểm" để tìm lại cuộc sống bình thường.


Thời gian thật vô tình và có khi thật tàn nhẫn vì nó đi qua nhưng không bao giờ trở lại. Đáng lẽ tôi phải xử dụng thuốc Pegasys và Ribavirin vào cuối tháng 12, 2003, nhưng vì tháng Mười Hai, tháng Giêng, và tháng Hai có những ngày lễ lớn như mùa Giáng Sinh, tết Dương Lịch, rồi đến tết Âm Lịch. Tôi muốn cùng gia đình có được những ngày lễ vui vẻ bên gia đình để sau đó đối diện với những khó khăn đang chờ đợi chúng tôi trong những ngày sau đó. Ngay sau tết Âm Lịch, tôi thật sự sẵn sàng để lên đường "đi chinh chiến", tiêu diệt kẻ thù vi khuẩn viêm gan C.


Cuộc hành trình quả thật đầy chông gai và nước mắt. Nó kinh hoàng và rùng rợn hơn trí tưởng tượng của tôi. Vì mình chưa bao giờ trải qua những thử thách mới nầy nên không ai có thể nào chuẩn bị được tinh thần cho đầy đủ để đối phó với những khó khăn. Đúng là "đoạn đường ai có qua cầu mới hay". Cả hai vợ chồng chúng tôi đều trải qua những ngày tháng thật căng thẳng (stress) và lo rầu (depression) và phải uống thuốc để giảm bớt bệnh lo rầu nầy. Các con tôi, 10 tuổi và 8 tuổi, biết cha mình bị bệnh nhưng không lớn đủ để hiểu tại sau cha mình suốt ngày cứ nằm trên giường, rủ đi đâu cũng lắc đầu nguầy nguậy.


Trường hợp tôi thì thuốc chích, thuốc uống, và các phản ứng phụ vật tôi tơi tả "không còn manh giáp". Tôi bị gần như 95% các phản ứng phụ mà tôi đã đọc thấy trên Internet. Đơn cử như û, nhức đầu, tiêu chảy, biếng ăn, mất ngủ tóc rụng (có người chỉ bị tóc mỏng và thưa), mất hồng huyết cầu và bạch huyết cầu, chóng mặt, ói mửa, sụt cân, gắt gỏng, chán đời muốn tự tử, không còn sức để làm việc dù nhẹ tới đâu, v..v. Mỗi lần lên cầu thang ở nhà, có lúc tôi như muốn bò mới có thể lên lầu được. Sau nầy bà xã tôi phải "dưng cơm hầu nước" ngày ba bữa cho "ông ấm".


Đi được hơn nửa đường, tôi quá mệt mõi và muốn bõ cuộc, do đó bác sĩ tôi khuyên nên nghỉ đỡ một tuần và sau đó hãy quyết định lại. Một tuần không tiêm thuốc, không uống thuốc, tôi thấy có thêm sức lực hẳn hoi. Sau nầy mới khám phá ra thuốc Pegasys và Ribavirin làm giảm hiệu lực của thuốc tiểu đường. Do vậy, số lượng đường trong máu cứ từ từ mà leo thang. Con số nầy hoặc quá thấp hoặc quá cao quá cũng có thể đưa tôi đến trường hợp bị hôn mê vĩnh viển (coma).


Thương vợ thương con, tôi quyết định tiếp tục cho hết cuộc hành trình để tìm lại hạnh phúc của gia đình trong tương lai. Nhờ Trời Phật phù hộ, hai lần thử nghiệm máu sau mỗi 3 tháng điều trị đều không phát hiện được (undetectable) vi khuẩn HCV. Giới y khoa không dùng từ ngữ "tiêu diệt" hay "diệt trừ" vi khuẩn viêm gan C, mà chỉ dùng từ ngữ "không phát hiện" (undetectable) vì rất khó để trừ khử vi khuẩn viêm gan C. Vì không phát hiện và diệt trừ chúng được, do đó chúng nó có thể trở lại rất mau chóng và bất cứ lúc nào. Bác sĩ cũng cho biết là chúng nó có thể "tái xuất giang hồ" khoảng 20% đến 40%. Do đó tôi phải trở lại tái khám và làm thử nghiệm máu mỗi tháng một lần trong vòng sáu tháng. Sau đó, cứ mỗi sáu tháng lại thử nghiệm máu với hy vọng là chúng không trở lại, trong vòng 3 năm. Nếu chúng tái xuất hiện, tôi lại phải dùng thuốc giống như lúc đầu, có nghĩa tôi phải trở lại địa ngục trở trong 6 tháng nữa.


Sau đây là một số websites tôi biết, hy vọng sẽ giúp các bạn tìm hiểu, trao đổi, hay chia xẻ cùng với những người khác đang mắc phải bệnh viêm gan C như bạn:


Tìm hiểu về Viêm Gan C


http://www.merckengage.com/common/ms_transition.aspx?WT.mc_id=MESOURCE&MTD=1


http://www.hepquest.com/




Các Nhóm Hỗ Trợ Tinh Thần Viêm Gan C



http://www.hepnet.com/support.html


http://www.hepcvets.com/


Mục đích của người viết bài nầy là để gây thêm chú ý (awareness) của cộng đồng chúng ta về căn bệnh nguy hiểm nầy. Tôi là một trong những "cựu chiến binh" viêm gan C may mắn, đang được hưởng hạnh phúc bên gia đình cùng vợ và hai con thân yêu của tôi. Sau cơn mưa trời lại sáng. Trải qua những "khổ nạn" như vầy, tôi thấy mình trưởng thành hơn, nhất là trân quý cái gia đình tôi đang có. Nếu bạn mắc chứng bệnh nầy, bạn không phải là một "chiến sĩ cô đơn" đâu. Những người cùng cảnh ngộ của bạn đang sẵn sàng chia xẻ với bạn, và những cựu chiến binh như tôi sẵn sàng hỗ trợ tinh thần cho bạn và gia đình của bạn để chiến đấu cho đến khi bạn thắng con vi khuẩn HCV hiểm độc nầy. Rồi một ngày nào đó bạn cũng sẽ trở thành một "cựu chiến binh" như tôi, và nối tiếp truyền thống người đi trước giúp đỡ người đi sau. Nếu có cơ hội và điều kiện, tôi mong muốn được tiếp tay với các "cựu chiến binh" viêm gan C thành lập "Nhóm Hỗ Trợ Tinh Thần Viêm Gan C" tại Little Sàigòn cho đồng hương Việt Nam chúng ta.


Tôi sẽ tiếp tục theo dõi những tin tức mới về viêm gan C để chia xẻ cùng quí vị trong tương lai. Chúc tất cả quí vị thật nhiều sức khỏe và thân tâm an lạc.


Tôi xin cám ơn các BS Đặng Phi Long chuyên khoa bao tử và đường ruột, BS Nguyễn Thanh Thùy chuyên khoa gia đình & trẻ em, BS Mạnh Quang Minh chuyên khoa về tiểu đường, BS Dương Hồng Tạo chuyên khoa tim mach, và toàn thể nhân viên của các văn phòng BS kể trên đã tận tình giúp đỡ tôi.


Tôi xin chân thành cảm ơn quí Thầy, Cô, đồng môn, các thân hữu của các hội đoàn bạn gần xa, hội Liên Trường THVN, các bạn cùng sở, và đặc biệt là nhóm "lai rai" tennis của tôi. Các bạn đã gửi thư, gọi điện thoại, và ghé đến nhà thăm hỏi, an ủi, và nâng đỡ tinh thần của tôi trong những tháng ngày thật cam go.


Sau hết, tôi xin mượn những dòng chữ chân thành nầy để cám ơn người vợ hiền của tôi; người lúc nào cũng khuyến khích, lo lắng và chăm sóc cho tôi ngày đêm. Vợ tôi đã mang đến cho tôi rất nhiều nghị lực, và "nàng" đã kiên trì, chịu đựng không biết bao nhiêu là gian nan, đúng với câu "đồng cam cộng khổ" cùng tôi trong những năm tháng dài chữa trị bệnh viêm gan C của tôi. Anh thành thật cám ơn Em và hai con.


Sự hỗ trợ tinh thần của gia đình và của tất cả bạn bè thân hữu trong gia đoạn tôi "vượt biên đi tìm tự do" thật là vô giá. Nhờ trãi qua cơn bệnh nầy, tôi đã tim lại được "tình người", "tình đồng hương", "tình đồng môn", và "tình bằng hữu" thật là sâu đậm và dễ thương mà bấy lâu nay tôi nghĩ là các tình nầy đã không còn hiện hữu trong cộng đồng Việt Nam tại hải ngoại.


Lời tâm sự cuối cùng là tôi thành thật cổ động tinh thần các bạn nào đã được bác sĩ "bật đèn xanh" để trị liệu, xin các bạn hãy mạnh dạn quyết định làm càng sớm càng tốt. Thời gian tính trong vấn đề nầy rất quan trọng, xin bạn đừng chờ nữa vì một số trong chúng ta đã chờ hơi lâu rồi. Đừng để lỡ "chuyến tầu", sau nầy hối tiếc thì đã muộn. Gia đình bạn và những người thân quen của bạn là những người sẽ cùng bạn "đi vượt biên", mọi người sẽ luôn luôn thông cảm và hỗ trợ tinh thần cho bạn. Bạn thật sự không lẻ loi đâu! Bạn còn có chúng tôi, những "cựu chiến binh" viêm gan C đã chiến đấu cho đến ngày tìm lại được "bến bờ tự do". Chúc bạn may mắn và thành công để sau nầy tiếp tay với chúng tôi để hỗ trợ tinh thần cho những người đi sau.


Little Saigon ngày 21 tháng 8 năm 2004


Phan Văn Tánh