Pages

Thứ Năm, 22 tháng 9, 2011

VIÊM GAN SIÊU VI C

Viêm gan siêu vi C ảnh hưởng đến hơn 180 triệu người trên toàn thế giới. Hầu hết các bệnh nhân không có triệu chứng cho đến khi bệnh diễn tiến đến giai đoạn cuối, sàng lọc, chẩn đoán đánh giá nên được thực hiện ở những người có hành vi nguy cơ cao liên quan với lây bệnh viêm gan C. Viêm gan C  liên quan đến xơ gan, suy gan, và chết, vì vậy điều trị để nhằm mục đích giảm các biến chứng này, cũng như cải thiện chất lượng cuộc sống và giảm thiểu tác dụng phụ. Hướng dẫn thực hành của Hiệp hội nghiên cứu bệnh gan Mỹ(AASLD), Châu Âu(EASL) Châu Á-Thái Bình Dương(APASL) tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán, quản lý và điều trị viêm gan C. Phác đồ chuẩn điều trị viêm gan C peginterferon alfa kết hợp với ribavirin. Hiện nay, hai sản phẩm pegylated interferon được cơ quan quản lý dược và thực phẩm Mỹ(FDA) phê duyệt để điều trị viêm gan C. Thời gian điều trị với peginterferon ribavirin được quyết định bởi kiểu gen của virus và kiểu đáp ứng virus. Các phương pháp điều trị mới đang được nghiên cứu để điều trị bệnh viêm gan C mãn tính cho thấy nhiều hứa hẹn về hiệu quả và ít tác dụng phụ hơn. Quan tâm tới những nhóm bệnh nhân đặc biệt và có hướng dẫn quyết định điều trị: Như các bệnh nhân đồng nhiễm với virus suy giảm miễn dịch, những người có bệnh thận giai đoạn cuối, người sử dụng tiêm chích ma túy, phụ nữ mang thai trẻ em.

GIỚI THIỆU

Virus viêm gan C (HCV) là virus  một sợi đơn RNA, HCV lây truyền  phổ biến nhất là qua đường máu, cũng có thể lây qua châm cứu, xăm mình, dùng bàn chải chung, dùng dao cạo râu chung, một tỉ lệ thấp (5%) lây qua đường tình dục, mẹ truyền qua con. Lây qua làm răng, nhổ răng, cạo vôi răng ở cơ sở nha khoa không bảo đảm về mặt khử trùng. Lây từ bệnh nhân này qua bệnh nhân khác trong bệnh viên qua các con đường nội soi đại tràng, chạy thận nhân tạo, phẫu thuật ở những cơ sở y tế không bảo đảm về mặt khử trùng. Viêm gan virus C không lây qua nước bọt, đường ăn uống, đường hô hấp. Viêm gan siêu vi C đã chính thức công nhận vào năm 1989 trước đó đã được gọi viêm gan  không-A, không- B. Hầu hết bệnh nhân bị viêm gan C cấp tính sẽ bị nhiễm  mãn tính.
Tỷ lệ mắc bệnh viêm gan C cấp tính đã giảm từ những năm 1980 những năm 1990 đã ổn định kể từ năm 2003, thể là kết quả của giáo dục và nâng cao nhận thức các yếu tố nguy cơ lây truyền
, sàng lọc máu thường quy được thực hiện vào năm 1992, cũng đã góp phần giảm tần số nhiễm HCV.

HẬU QUẢ LÂU DÀI

Xơ gan, suy gan, ung thư biểu mô tế bào gan là những biến chứng có thể có của bệnh viêm gan C mãn tính. Khoảng 20-30% bệnh nhân viêm gan C mạn tính sẽ tiến triển đến xơ gan trong vòng 20 năm. Những yếu tố có thể làm tăng nhanh diễn tiến của bệnh như nghiện rượu, suy giảm miễn dịch, tình trạng ứ sắt, đồng nhiễm virus hướng gan khác, giới tính, và tuổi. Viêm gan siêu vi mãn tính một nguyên nhân hàng đầu gây ung thư biểu mô tế bào gan và là một trong những lý do phổ biến nhất cho việc ghép gan. Theo ước tính 12.000 ca tử vong / năm là kết quả của bệnh gan mãn tính do bệnh viêm gan C.

TRIỆU CHỨNG

Hầu hết các bệnh nhân bị nhiễm viêm gan C mn tính  không có triệu chứng hoặc có thể có các triệu chứng không đặc hiệu như mệt mỏi hay khó chịu trong trường hợp không rối loạn chức năng gan. Bệnh nhân xơ gan mất bù do bệnh viêm gan C có các triệu chứng giống như bệnh nhân bị bệnh gan mất bù khác, chẳng hạn như  rối loạn giấc ngủ ngứa.

Các triệu chứng đặc trưng các biến chứng của bệnh gan tiến triển hoặc có liên quan đến rối loạn chức năng
gan tăng áp tĩnh mạch cửa. Bao gồm các thay đổi trạng thái tâm thần (bệnh não do gan), phù mắt cá chân, chướng bụng (cổ trướng), nôn ra máu hoặc tiêu phân đen (do dãn vỡ tĩnh mạch thực quản).

XÉT NGHIỆM

-          Anti-HCV (ELISA) : dương tính

-          Xét nghiệm định tính HCV-RNA bằng kỹ thuật khuếch đại mục tiêu(PCR, TMA):

• Amplicor Hepatitis C Virus Test, version 2.0 (Roche Molecular Systems; Pleasanton, Calif) - PCR với giới hạn phát hiện thấp nhất là 50 IU/mL

• Cobas Amplicor, version 2.0 (Roche Molecular Systems; Branchburg, NJ) – PCR với giới hạn phát hiện thấp nhất là 50 IU/mL.

• Versant HCV RNA Qualitative Assay, (Bayer HealthCare; Tarrytown, NY) - TMA với giới hạn phát hiện thấp nhất là 9.6 IU/mL.

-          Xét nghiệm định lượng HCV RNA trong máu bằng phương pháp khuếch đại tín hiệu (branched  DNA [bDNA]) hoặc kỹ thuật khuếch đại mục tiêu (PCR, TMA). Số lượng HCV RNA trong máu giúp dự đoán khả năng đáp ứng điều trị, và sự thay đổi số lượng HCV RNA trong quá trình điều trị được sử dụng để theo dõi đáp ứng điều . Các lần xét nghiệm định lượng này nên làm cùng một kỹ thuật để tránh nhầm lẫn, và kết quả xét nghiệm nên được tính bằng đơn vị quốc tế (IU) để chuẩn hóa dữ liệu. Kỹ thuật khuếch đại tín hiệu branched DNA có giải phát hiện rộng từ  615 - 7,700,000 IU / mL.

-          Biến thể gen IL28B được phát hiện bằng phương pháp PCR là một yếu tố dự đoán độc lập, bất kể loại genotype.

-          HCV genotype : để dự đoán khả năng thành công của điều trị, và thời gian điều trị bao lâu. Có 6 genotype khác nhau, genotype 1,4, 6 có khả năng đáp ứng với điều trị thấp hơn là genotype 2,3. Thời gian điều trị cho genotype 1, 4,6 là 48 tuần, còn đối với genotype 2, 3 thì thời gian điều trị thường là 24 tuần. Rõ hơn ở bài số lượng vi rút viêm gan c và genotype, và bài viêm gan siêu c và các loại genotype.

-          Đánh giá chức năng gan :

·         ALT, AST, Bilirubin

·         GGT, Phosphatase kiềm

·         Định lượng Albumin

·         INR

·         Điện di protein

·         AFP

-          Đánh giá chức năng thận :

·         BUN, Creatinin

·         Độ lọc cầu thận (GFR)

-          Đánh giá chức năng tuyến giáp :

·         TSH

·          FT3

·          FT4

-          Đếm tế bào máu ( Công thức máu )

-          Đường máu

-          ANA

-          Siêu âm bụng

-          XQ ngực thẳng

-          Đo điện tâm đồ

-          Đo điện tâm đồ

ĐIỀU TRỊ

Mục tiêu của điều trị bệnh viêm gan C mãn tính là đạt được âm tính lâu dài của HCV(SVR), được định nghĩa là âm tính lâu dài của HCV RNA trong huyết thanh 6 tháng trở lên sau khi kết thúc điều trị bằng thuốc kháng virus, và  ngăn chặn sự tiến triển đến xơ gan, ung thư gan, và bệnh gan mất bù cần phải ghép gan.

Ở tuần thứ 4 của quá trình điều trị bệnh nhân nên được làm xét nghiệm định lượng HCV RNA để xác nhận có đáp ứng nhanh hay không ? Nếu có đáp ứng nhanh thì dự đoán thành công của điếu trị sẽ tăng lên. Ở tuần thứ 12 của điều trị, bệnh nhân nên được lặp lại định lượng HCV RNA để đánh giá đáp ứng virus sớm, xét nghiệm đánh giá có rối loạn chức năng tuyến giáp liên quan đến IFN hay không?  Nếu nồng độ HCV RNA  không thể phát hiện hoặc giảm lớn hơn 2-log so với nồng độ HCV RNA ban đầu thì điều trị nên được tiếp tục bởi vì, theo Fried et al, đến 65% bệnh nhân sẽ có đáp ứng virus kéo dài( SVR). Ngược lại, nếu không có đáp ứng virus sớm thì  điều trị nên được ngừng lại, bởi vì cơ hội đáp ứng virus kéo dài là ít hơn 3%.
Trong những bệnh nhân không có đáp ứng virus kéo dài nhưng lại có cải thiện về mức độ xơ hóa.

Định lượng HCV RNA nên được kiểm tra lại 6 tháng sau khi hoàn thành điều trị, và nếu phát hiện, bệnh của bệnh nhân đã tái phát và cần được xem xét một điều trị thay thế. Nếu HCV RNA không thể phát hiện và kết quả kiểm tra vẫn còn âm tính thì bệnh nhân đã có đáp ứng virus kéo dài(SVR).
Điều trị kháng virus cho bệnh nhân viêm gan C có anti-HCV dương tính, có HCV RNA trong huyết thanh, có kết quả sinh thiết gan phù hợp với viêm gan mạn tính, mặc dù sinh thiết có thể không cần thiết, và không có chống chỉ định với điều trị.



Việc điều trị viêm gan C đã phát triển trong những năm qua. Hiện tại có hai phác đồ điều trị :

-          Interferon (IFN) tiêm(chích)dưới da tuần 3 mũi phối hợp uống Ribavirin

-          Peginterferon(PegIFN) tiêm(chích) dưới da tuần 1 mũi phối hợp với uống Ribavirin.

Hiện nay cơ quan quản lý thuốc và thực phẩm Mỹ (FDA) đã chấp nhận 2 thuốc uống ức chế men protease là Telaprevir và Boceprevir thêm vào phác đồ điều trị PegIFN và Ribavirin để thành một phác đồ 3 loại thuốc. Nhưng hiện nay chưa có bất kỳ hướng dẫn thực hành lâm sàng nào của các hiệp hội gan mật Mỹ, Châu Âu, hay Châu Á-Thái Bình Dương phát hành phác đồ 3 loại thuốc này.

Chi phí cho Telaprevir(Incivek) hay Boceprevir(Victrelis) thì khoảng 1000 UDS cho 1 tuần.


Tác dụng phụ của điều trị thì rất nhiều và có nhiều nguy cơ, có thể đe dọa tính mạng, vì thế khi điều trị cần được theo dõi một cách cẩn thận các tác dụng phụ và đáp ứng điều trị bởi bác sĩ.
Xem thêm :- VIÊM GAN SIÊU VI C VÀ CÁC PHƯƠNG ÁN ĐIỀU TRỊ
                             - TÔI BỊ VIÊM GAN SIÊU VI C

Mọi thắc mắc vui lòng xin liên hệ : 0973332733

Hiện tại Bs Hùng có Incivek 375mg, ai có nhu cầu xin liên hệ theo số điện thoại ở trên.



Thứ Tư, 21 tháng 9, 2011

DIỂN BIẾN CỦA VIÊM GAN VI RÚT C

Trong 100 người bị nhiễm vi rút viêm gan C thì sẽ có khoảng 80 người trở thành mang vi rút viêm gan C mạn tính, còn 20 còn lại cơ thể của họ đẩy được vi rút ra khỏi cơ thể.

Trong 80 người mang vi rút viêm gan C mạn tính sẽ có khoảng 20 người trở thành bệnh xơ gan.

Có khoảng 2 đến 3 người sẽ trở thành ung thư gan.

Mọi thắc mắc vui lòng xin liên hệ : 0973332733

Thứ Tư, 21 tháng 7, 2010

VIÊM GAN SIÊU VI B MẠN TÍNH CÓ CHỮA KHỎI KHÔNG?

Hậu quả của bệnh viêm gan siêu vi B mạn tính là các bệnh gan giai đoạn cuối như xơ gan, ung thư gan…nếu không được điều trị.
Như vậy một câu hỏi lớn đặt ra là “Có điều trị khỏi bệnh viêm gan siêu vi B mạn tính không???”
Hiện nay có rất nhiều loại thuốc được chấp nhận để điều trị bệnh viêm gan siêu vi B như Peginterferon alfa 2a, Interferon alfa 2b, lamivudine, adefovir, entecavir, telbivudine và tenofovir. Các thuốc đồng phân nucleotides kiểm soát sự tăng sinh siêu vi rất tốt. Nhưng khi ta ngưng thuốc thì siêu vi tăng sinh trở lại, ngay cả những bệnh nhân đã mất HBsAg trong quá trình điều trị. Do đó, mặc dù bệnh viêm gan B có thể được kiểm soát với các thuốc này, nhưng hiếm khi, và dường như không bao giờ chữa khỏi. Lời giải thích có lẽ nằm ở một dạng siêu vi được gọi là "DNA vòng đóng đồng hoá trị (cccDNA)," nó đóng một vai trò then chốt trong sự tồn tại kéo dài, dai dẳng của siêu vi và kích hoạt lại siêu vi sau khi ngưng điều trị.

Thế cccDNA là gì ?cccDNA của virus viêm gan tạo thành một hình thức ổn định của bộ gen DNA của siêu vi.
cccDNA tồn tại trong nhân tế bào gan bị nhiễm như là một minichromosome không đầy đủ hoặc episome, nó hoạt động như một khuôn mẫu cho các phiên mã gen của siêu vi. Số lượng copies của cccDNA trong tế bào có sự biến động, nhưng nói chung khoảng từ 10 -50 copies / tế bào.

Làm thế nào để cccDNA được sản xuất và duy trì?
Các cccDNA được sản xuất trong quá trình sao chép siêu vi. Mặc dù HBV là một siêu vi DNA một phần sợi kép, nó sao chép thông qua trung gian của RNA bằng cách sử dụng men polymerase có hoạt tính sao chép ngược. Sao chép của HBV chủ yếu xảy ra ở trong tế bào gan [2] Sau khi thâm nhập vào tế bào, siêu vi cởi bỏ lớp vỏ protein của nó, và chuỗi DNA duỗi ra, bộ gen chuỗi đôi chưa đầy đủ được vận chuyển vào trong nhân.. [2] Trong nhân, polymerase của iêu vi và của ký chủ sửa chữa và duỗi ra,phần gen không đầy đủ trở nên hoàn chỉnh thành bộ gen sợi kép,và uốn tròn thành bộ gen đồng hoá trị là cccDNA.
cccDNA hoạt động như bản mẫu để sao chép của tất cả các RNA thông tin (mRNA). Sau khi tổng hợp, các mRNA được vận chuyển đến tế bào chất, tại đây các protein siêu vi được tổng hợp thông qua quá trình giải mã, các nucleocasid được lắp ráp, và sẽ hình thành các siêu vi mới. Vậy cccDNA được xem như một khuôn mẫu sản xuất các siêu vi mới.

Vì thế cccDNA như là mục tiêu điều trị:
cccDNA của HBV là mục tiêu điều trị vì nó đóng vai trò quan trọng trong sự nhân lên của siêu vi và sự tồn tại dai dẳng của nó. Các loại thuốc uống ức chế men polymerase của siêu vi nhưng không ức chế con đường quay ngược lại trong nội bào của siêu vi để sinh ra cccDNA. Như vậy sự nhân lên của siêu vi sẽ quay lại với số lượng cao như trước khi điều trị khi ngưng các thuốc này. Sử dụng nhiều kỹ thuật phân tử, các nghiên cứu kiểm tra thay đổi lượng cccDNA ở bệnh nhân điều trị một mình với thuốc uống nucleos (t) ide, hoặc kết hợp với Peginterferon, đã chứng minh giảm cccDNA ở mức 1,0-2,4 log10 bản sao / tế bào, nhưng không sạch hết, so với các hình thức DNA khác của siêu vi B trong tế bào gan.
Dựa trên những dữ liệu này, dùng mô hình toán học dự đoán rằng phải cần lâu hơn 14 năm để sạch hoàn toàn cccDNA trong nội bào ở một người nhiễm HBV mạn tính. Ý nghĩa lâm sàng của phát hiện này là khi dùng thuốc uống nucleos (t)ide thì phải sử dụng trong thời gian dài, nếu không muốn nói là vô thời hạn. Mục tiêu “chữa khỏi bệnh " viêm gan B bằng các thuốc uống nucleos(t)ide hiện có thì không thể bởi vì các thuốc này không thể có tác dụng ức chế siêu vi kéo dài hoài được, và cũng không thể thải trừ hết cccDNA trong tế bào gan.

Mọi thắc mắc vui lòng xin liên hệ : 0973332733

Thứ Sáu, 13 tháng 11, 2009

TÔI BỊ VIÊM GAN C

Tôi xin anh Tánh đăng lại bài này theo như :" Mục đích của người viết bài nầy là để gây thêm chú ý (awareness) của cộng đồng chúng ta về căn bệnh nguy hiểm nầy. Tôi là một trong những "cựu chiến binh" viêm gan C may mắn, đang được hưởng hạnh phúc bên gia đình cùng vợ và hai con thân yêu của tôi. Sau cơn mưa trời lại sáng. Trải qua những "khổ nạn" như vầy, tôi thấy mình trưởng thành hơn, nhất là trân quý cái gia đình tôi đang có"


Tiếng điện thoại reo vang, theo thói quen tôi nhấc điện thoại lên sau tiếng reo thứ nhì. "Hello, xin lỗi ai ở đầu dây đó?" tôi hỏi. Bên đầu dây bên kia cho biết là bác sĩ M.M. Ông gọi cho tôi để yêu cầu tôi ngưng uống thuốc trị tiểu đường Actos vì Actos không thích hợp cho người bị bệnh viêm gan, và nó đã có phần nào tác hại cho gan. Kết quả thử máu lần nầy của tôi cho thấy là hai chất men gan ALT và AST của tôi lên khá cao. Như vậy chức năng gan của tôi có vấn đề. Tôi được bác sĩ gửi đi thử nghiệm thêm về gan lần nữa, và kết quả cho biết là tôi bị viêm gan C (hepatitis C). Khi nghe qua, tôi cũng hoang mang, lo lắng và không biết nặng nhẹ cỡ nào. Đó là mùa hè năm 2001. Tôi được giới thiệu một bác sĩ nội khoa (internal medicine) có chuyên ngành về đường ruột và bao tử (gastroenterology). Ông nầy không ai xa lạ là vị bác sĩ tôi đã tín nhiệm trong 8 năm qua. Theo hồ sơ của văn phòng bác sĩ nầy thì tôi đã được chẩn đoán là trong gan tôi đã có vi khuẩn (virus) C từ năm 1994, nhưng không biết lá gan của mình đang ở giai đoạn nào. Đây là một điển hình vì tôi thiếu kiến thức căn bản, tánh mạng mình có thể không được an toàn. Tôi hoàn toàn không có một ký ức nào về dữ kiện nầy và tôi cũng không nhớ là bác sĩ có khuyên dặn gì tôi không. Bác sĩ tôi cũng không căn dặn kiêng cử gì hết, và cũng không khuyên tôi nên theo dõi hàng năm bằng cách thử máu. Vì không hiểu rõ sự tác hại của chứng bệnh này nên tôi đã để 8 năm âm thầm lặng lẽ trôi qua.


Thời gian cứ mãi trôi dần, tôi vẫn cứ "lai rai" một ly, hai ly... mỗi cuối tuần sau vài tiếng đồng hồ chơi quần vợt với bạn bè. Sau khi khám phá lần thứ hai về bệnh viêm gan C, tôi đã đổi qua bác sĩ khác. Khi nghe tôi bị viêm gan C, cậu em vợ (Nguyễn Hải Tuấn, bác sĩ giải phẫu) và vợ của cậu ta (Nguyễn Thùy Anh, bác sĩ gia đình), đều có khuyên tôi nên lo trị liệu bằng thuốc tây càng sớm càng tốt vì Thùy-Anh đã từng chữa trị cho một số bệnh nhân bị viêm gan C. Trong thời gian trị liệu của tôi, Ba Mẹ vợ của tôi giúp "trông em bé bị bệnh" trong lúc bà xã tôi lo đi "kiếm cơm"; vợ chồng cậu em vợ là N.H. Tuấn và Thùy-Anh cũng luôn thăm hỏi, và sẵn sàng đến khám nghiệm khi cần đến, và cố vấn tôi về kiến thức và thủ tục y khoa. Tôi còn nhớ rõ ngày đầu tiên, Thùy-Anh có lời khuyên "cảnh báo" với tôi rằng: "Từ rày trở đi, tuyệt đối anh không được uống một giọt rượu nào cả!" Sau đó Thùy-Anh có phân trần là vì lo cho tôi nên có những lời như thế, mong tôi đừng giận. Tôi thực sự ghi tâm về lời khuyên của Thùy-Anh nên tôi quyết định "dứt sửa" cái tật "lai rai" kể từ ngày đó cho đến nay vì "sức khỏe là vàng", có tiền cũng không mua được. Tôi thật sự thấm thía về câu nầy nên trong hai năm dài lo chạy chữa đủ mọi loại thuốc. Ai mách gì tôi cũng thử ít nhất là 3 tháng, xong rồi đi thử máu xem có khả quan gì không. Giai đoạn dùng thuốc phương đông đã kéo dài trong 18 tháng nhưng không có kết quả. Do đó tôi đành phải quyết định sự chữa trị bằng thuốc tây; chuẩn bị tinh thần để bước vào chông gai mà tôi đã cố tránh né trong một thời gian dài.


Học được bài học "bệnh của mình, mình không lo thì ai lo cho mình đây", ngay cả bác sĩ của mình cũng chưa chắc gì lo chu đáo cho mình. Có chút kiến thức về máy vi tính, chút ít hiểu biết về cách tìm kiếm thông tin, tin tức trên mạng lưới Internet, tôi đã bỏ ra hằng trăm giờ để tìm hiểu thêm về bệnh viêm gan C, như nó từ đâu ra, nó lây lan như thế nào, sức tàn phá của nó nhanh hay chậm, mãnh liệt hay âm thầm mà giết người không hay, v...v.


Lúc đầu tôi nghĩ là chỉ có một loại vi khuẩn viêm gan C thôi, nhưng quý vị có biết là có bao nhiêu loại (genotypes) không? 11 loại chính, và tổng cộng là 22 loại kể cả loại phụ, mỗi loại có đặc tính riêng của nó. Xuất xứ của chúng là từ những quốc gia rải rác trên khắp hoàn cầu. Sự lây truyền chính của nó là từ máu qua máu. Những cách bị lây truyền thường xảy ra là dùng chung kim như cách chích ma túy, cần sa, hoặc dụng cụ y khoa không được khử trùng (như ở Việt Nam trước đây thường dùng một kim chích cho nhiều người khác nhau), hoặc từ mẹ truyền cho con trong lúc sanh nở, hoặc hiếm hơn là qua dao cạo, kéo cắt da tay, hoặc truyền máu có vi khuẩn (việc nầy rất hiếm vì sau khoảng 1994 các cơ quan nhận hiến máu dùng kỷ thuật tân tiến để loại ra được vi khuẩn viêm gan C).


Sau khi biết được phương pháp trị liệu bằng thuốc tây sẽ gây ra nhiều phản ứng phụ như vậy, tôi đành phải quay trở về phương pháp trị liệu mà đa số đồng hương ta đều ưa chuộng, đó là thuốc bắc và thuốc nam. Bác tôi ngày xưa cũng là một danh y thuốc nam ở thành phố Long Hoa, Tây Ninh. Mỗi hè về thăm Nội, Ngoại, gia đình tôi cũng đều ghé thăm bác, và mỗi lần như thế tôi được "thưởng" chừng 20 đến 30 thang thuốc nam. Nhờ đó mà tôi uống thuốc nam họăc thuốc bắc như uống "cà phê"; nó chỉ "dỡ" hơn cà phê Starbucks thôi!


Tôi đã uống thuốc nam và thuốc bắc của 3 vị thầy ở thành phố Little Sàigòn và một danh y ở Việt Nam, ở những thời điểm khác nhau. Sau 12 tháng rồng rã, người uống thuốc như uống cà phê bắt đầu sợ mùi thuốc. Con bệnh sợ thuốc là sự đương nhiên, vậy mà người nấu thuốc cũng sợ luôn. Mỗi ngày bà xã tôi xử dụng loại nồi nấu thuốc bắc bằng điện và tự động tắt khi cạn vừa đủ để uống, nấu và ngửi mùi thuốc mãi "nàng" cũng sợ luôn.


Sau 12 tháng dài vật lộn với những chén thuốc bắc mà tôi hay gọi đùa là "cà phê" cữ sáng và cữ tối, và 6 tháng nhai những "viên kẹo" thuốc tể khó nuốt, nhưng số vi khuẩn mỗi ngày mỗi tăng thêm. Thấy tình trạng của mình không mấy khả quan, tôi quyết định lấy toa bác sĩ đã cấp cho tôi lâu rồi để mua thuốc chích Pegasys và thuốc uống Ribavirin. Lúc đó là tháng 5, 2003, thuốc còn tương đối mới và vì do một hãng độc quyền nên khan hiếm, do đó thường phải đợi từ một tuần, có khi đến cả tháng mới có thuốc.


Sau hai tuần đặt mua, thuốc đã về đến thì một sự kiện rất lý thú xảy ra. Tôi tình cờ gặp một cậu em quen ở đối diện nhà, cùng đến hốt thuốc bắc của một ông thầy ở Anaheim như tôi. Cậu ta cho biết là mẹ của cậu cũng được chẩn bệnh là có vi khuẩn viêm gan C, nhưng nhờ uống thuốc của một ông thầy ở Mỹ Tho, Việt Nam, bây giờ khỏi bệnh rồi. Như người chết đuối vớ gặp cái phao, tôi tức thì chạy về nhà của cậu em, gặp mẹ cậu là bác Mười để xin số điện thoại và địa chỉ của ông thầy ở Việt Nam. Cũng trong thời điểm nầy, một tình cờ nữa là nhạc mẫu của tôi cũng mới quen biết được một ông dược sĩ trong nhóm tu thiền cũng "được" chữa hết bệnh do cùng một ông thầy ở Mỹ Tho. Tuy nhiên, sau đó không lâu thì nhạc mẫu tôi cho hay là ông dược sĩ đó đã qua đời; có lẽ ông ta ỷ y là bệnh mình hết rồi nên không theo dõi kỹ bệnh trạng của mình, nhưng các con vi khuẩn HCV vẫn luôn âm thầm tiêu diệt lá gan của ông mà ông không hay. tiến bước trên bước đường xâm lăng của chúng như bọn Cộng Sản nằm vùng. Một lần nữa, tôi và vợ tôi sẵn sàng xếp số thuốc tây, đã mua đủ dùng trong 3 tháng trị giá $6,000.00, vào tủ lạnh.


Thế là tôi tức tốc gọi về cho gia đình của tôi ở Cần-Thơ để chạy lên Mỹ Tho hốt thuốc cho tôi. Thật là may cho tôi là bác Mười có người con đi Việt Nam chơi và sắp quay lại Los Angeles. Đi từ cái may nầy đến cái may khác, trong vòng hai tuần là tôi có được thuốc từ Việt Nam đủ để uống cho 4 tháng đầu. Đây là những viên thuốc tể, mỗi viên được làm bằng tay và bọc bằng bao ni-long thật là công phu. Đặc biệt là ông thầy nầy quý những viên thuốc của mình làm ra nên không thích cho gia đình mình gửi thuốc bằng bưu điện vì lỡ bị mất thì ông ta tiếc lắm. Lúc đầu tôi tưởng bở, nghĩ rằng thuốc tể nầy có lẽ cũng giống như những viên thuốc tể ngày xưa mà tôi ăn ké với Mẹ hoặc Ngoại. Có ai ngờ đầu, mỗi tuần là một gói khác nhau, có gói khó nhai, khó nuốt gấp 10 lần uống một chén thuốc bắc. Thêm vào đó, mỗi hai hay ba tuần phải uống thuốc xổ do ông đặc chế, để xổ chất độc ra. Mỗi lần xổ là mỗi lần tôi đau oằn oại, toát mồ hôi hột, và cơ thể lạnh cóng như nằm trong phòng ướp lạnh vậy.


Theo thông lệ, cứ uống thuốc được 3 tháng là tôi xin giấy bác sĩ đi thử nghiệm máu. Kết quả thật là khả quan và khích lệ! Chất men gan ALT và AST của tôi trở lại bình thường, và số vi khuẩn trong máu (viral load) tôi tuột xuống hơn 95%, số vi khuẩn đã giảm từ 14,000,000 còn 800,000 trong một mili-lít máu. Đối với tôi, cả hai kết quả về men gan và số lượng vi khuẩn đều quan trọng. Mỗi 3 tháng thử nghiệm máu, tôi đều xin bác sĩ cho làm thử nghiệm RNA để biết được số lượng vi khuẩn đi lên hay đi xuống. Tuy nhiên mỗi lần thử nghiệm loại nầy nó tốn khoảng $200-$300, và mất khoảng 7-10 ngày mới nhận được kết quả của loại thử nghiệm nầy. Theo kinh nghiệm bản thân, bác sĩ đầu tiên của tôi không đá động gì đến việc thử nghiệm kể trên. Được tin vui trên, cả nhà tôi ở Việt Nam và bên vợ tôi ở Nam California và Texas đều mừng chảy nước mắt. Tinh thần tôi lúc lên cao như diều gặp gió vậy. Vì kết quả quá khả quan trong 3 tháng đầu, nên dù thuốc có đắng hay đau đớn khi xổ độc đến đâu, tôi cũng phải cố gắng hết sức mình. Các cụ xưa có nói "thuốc đắng giã tật". Tôi tiếp tục thêm 3 tháng gian truân nữa, và tôi lại đi thử máu một lần nữa. Nhưng than ôi! kết quả thử máu lần nầy làm cho mọi người đều bí xị. Tin vui của 3 tháng trước đột nhiên tan biếng như bọt biển. Số vi khuẩn kỳ nầy vọt từ 800,000/ml lên tới 6,000,000/ml. Thế là tôi quyết định lôi đống thuốc tây đã mua cách nay 6 tháng để thử một cuộc hành trình mới. Bà xã tôi nghe tôi kể những biến chứng và các phản ứng phụ, cô ta không muốn thấy tôi bị hành xác như vậy. Nhưng tôi quan niệm là còn nước thì tôi còn tát nên "nàng" cũng đành chìêu lòng tôi,


Trước khi bác sĩ quyết định "cấp passport" cho bạn "đi thám hiểm", thông thường một số bác sĩ muốn bạn làm thêm hai thủ tục y khoa nữa. Thủ tục y khoa thứ nhất là đâm kim lấy mẫu tế bào trong gan (liver biopsy) để biết tình trạng của lá gan của mình ở thời kỳ thứ mấy và giai đoạn nào. Thủ tục nầy được làm tại bệnh viện vì chỉ có bệnh viện mới có đầy đủ vật liệu và dụng cụ y khoa để phòng khi bị xuất huyết nội tạng. Mẫu thử nghiệm tế bào gan của tôi cho biết là tôi bị sơ gan (fibrosis). Tình trạng xơ gan của tôi là thời kỳ thứ 3 (trong 4 thời kỳ). Sau sơ gan là chai gan (cirrhosis), và nó cũng có thể trở thành ung thư (cancer). Thủ tục y khoa kế tiếp là làm siêu âm (ultrasound) ở phần bụng (abdomen) để xem gan và những bộ phận khác có gì bất bình thường không. Sau khi đọc các kết quả thử nghiệm về y khoa, bác sĩ cho tôi biết là trường hợp tôi vẫn còn nhiều hy vọng lắm, và tuổi tôi vẫn còn "gân" để có thể "thoát hiểm" để tìm lại cuộc sống bình thường.


Thời gian thật vô tình và có khi thật tàn nhẫn vì nó đi qua nhưng không bao giờ trở lại. Đáng lẽ tôi phải xử dụng thuốc Pegasys và Ribavirin vào cuối tháng 12, 2003, nhưng vì tháng Mười Hai, tháng Giêng, và tháng Hai có những ngày lễ lớn như mùa Giáng Sinh, tết Dương Lịch, rồi đến tết Âm Lịch. Tôi muốn cùng gia đình có được những ngày lễ vui vẻ bên gia đình để sau đó đối diện với những khó khăn đang chờ đợi chúng tôi trong những ngày sau đó. Ngay sau tết Âm Lịch, tôi thật sự sẵn sàng để lên đường "đi chinh chiến", tiêu diệt kẻ thù vi khuẩn viêm gan C.


Cuộc hành trình quả thật đầy chông gai và nước mắt. Nó kinh hoàng và rùng rợn hơn trí tưởng tượng của tôi. Vì mình chưa bao giờ trải qua những thử thách mới nầy nên không ai có thể nào chuẩn bị được tinh thần cho đầy đủ để đối phó với những khó khăn. Đúng là "đoạn đường ai có qua cầu mới hay". Cả hai vợ chồng chúng tôi đều trải qua những ngày tháng thật căng thẳng (stress) và lo rầu (depression) và phải uống thuốc để giảm bớt bệnh lo rầu nầy. Các con tôi, 10 tuổi và 8 tuổi, biết cha mình bị bệnh nhưng không lớn đủ để hiểu tại sau cha mình suốt ngày cứ nằm trên giường, rủ đi đâu cũng lắc đầu nguầy nguậy.


Trường hợp tôi thì thuốc chích, thuốc uống, và các phản ứng phụ vật tôi tơi tả "không còn manh giáp". Tôi bị gần như 95% các phản ứng phụ mà tôi đã đọc thấy trên Internet. Đơn cử như û, nhức đầu, tiêu chảy, biếng ăn, mất ngủ tóc rụng (có người chỉ bị tóc mỏng và thưa), mất hồng huyết cầu và bạch huyết cầu, chóng mặt, ói mửa, sụt cân, gắt gỏng, chán đời muốn tự tử, không còn sức để làm việc dù nhẹ tới đâu, v..v. Mỗi lần lên cầu thang ở nhà, có lúc tôi như muốn bò mới có thể lên lầu được. Sau nầy bà xã tôi phải "dưng cơm hầu nước" ngày ba bữa cho "ông ấm".


Đi được hơn nửa đường, tôi quá mệt mõi và muốn bõ cuộc, do đó bác sĩ tôi khuyên nên nghỉ đỡ một tuần và sau đó hãy quyết định lại. Một tuần không tiêm thuốc, không uống thuốc, tôi thấy có thêm sức lực hẳn hoi. Sau nầy mới khám phá ra thuốc Pegasys và Ribavirin làm giảm hiệu lực của thuốc tiểu đường. Do vậy, số lượng đường trong máu cứ từ từ mà leo thang. Con số nầy hoặc quá thấp hoặc quá cao quá cũng có thể đưa tôi đến trường hợp bị hôn mê vĩnh viển (coma).


Thương vợ thương con, tôi quyết định tiếp tục cho hết cuộc hành trình để tìm lại hạnh phúc của gia đình trong tương lai. Nhờ Trời Phật phù hộ, hai lần thử nghiệm máu sau mỗi 3 tháng điều trị đều không phát hiện được (undetectable) vi khuẩn HCV. Giới y khoa không dùng từ ngữ "tiêu diệt" hay "diệt trừ" vi khuẩn viêm gan C, mà chỉ dùng từ ngữ "không phát hiện" (undetectable) vì rất khó để trừ khử vi khuẩn viêm gan C. Vì không phát hiện và diệt trừ chúng được, do đó chúng nó có thể trở lại rất mau chóng và bất cứ lúc nào. Bác sĩ cũng cho biết là chúng nó có thể "tái xuất giang hồ" khoảng 20% đến 40%. Do đó tôi phải trở lại tái khám và làm thử nghiệm máu mỗi tháng một lần trong vòng sáu tháng. Sau đó, cứ mỗi sáu tháng lại thử nghiệm máu với hy vọng là chúng không trở lại, trong vòng 3 năm. Nếu chúng tái xuất hiện, tôi lại phải dùng thuốc giống như lúc đầu, có nghĩa tôi phải trở lại địa ngục trở trong 6 tháng nữa.


Sau đây là một số websites tôi biết, hy vọng sẽ giúp các bạn tìm hiểu, trao đổi, hay chia xẻ cùng với những người khác đang mắc phải bệnh viêm gan C như bạn:


Tìm hiểu về Viêm Gan C


http://www.merckengage.com/common/ms_transition.aspx?WT.mc_id=MESOURCE&MTD=1


http://www.hepquest.com/




Các Nhóm Hỗ Trợ Tinh Thần Viêm Gan C



http://www.hepnet.com/support.html


http://www.hepcvets.com/


Mục đích của người viết bài nầy là để gây thêm chú ý (awareness) của cộng đồng chúng ta về căn bệnh nguy hiểm nầy. Tôi là một trong những "cựu chiến binh" viêm gan C may mắn, đang được hưởng hạnh phúc bên gia đình cùng vợ và hai con thân yêu của tôi. Sau cơn mưa trời lại sáng. Trải qua những "khổ nạn" như vầy, tôi thấy mình trưởng thành hơn, nhất là trân quý cái gia đình tôi đang có. Nếu bạn mắc chứng bệnh nầy, bạn không phải là một "chiến sĩ cô đơn" đâu. Những người cùng cảnh ngộ của bạn đang sẵn sàng chia xẻ với bạn, và những cựu chiến binh như tôi sẵn sàng hỗ trợ tinh thần cho bạn và gia đình của bạn để chiến đấu cho đến khi bạn thắng con vi khuẩn HCV hiểm độc nầy. Rồi một ngày nào đó bạn cũng sẽ trở thành một "cựu chiến binh" như tôi, và nối tiếp truyền thống người đi trước giúp đỡ người đi sau. Nếu có cơ hội và điều kiện, tôi mong muốn được tiếp tay với các "cựu chiến binh" viêm gan C thành lập "Nhóm Hỗ Trợ Tinh Thần Viêm Gan C" tại Little Sàigòn cho đồng hương Việt Nam chúng ta.


Tôi sẽ tiếp tục theo dõi những tin tức mới về viêm gan C để chia xẻ cùng quí vị trong tương lai. Chúc tất cả quí vị thật nhiều sức khỏe và thân tâm an lạc.


Tôi xin cám ơn các BS Đặng Phi Long chuyên khoa bao tử và đường ruột, BS Nguyễn Thanh Thùy chuyên khoa gia đình & trẻ em, BS Mạnh Quang Minh chuyên khoa về tiểu đường, BS Dương Hồng Tạo chuyên khoa tim mach, và toàn thể nhân viên của các văn phòng BS kể trên đã tận tình giúp đỡ tôi.


Tôi xin chân thành cảm ơn quí Thầy, Cô, đồng môn, các thân hữu của các hội đoàn bạn gần xa, hội Liên Trường THVN, các bạn cùng sở, và đặc biệt là nhóm "lai rai" tennis của tôi. Các bạn đã gửi thư, gọi điện thoại, và ghé đến nhà thăm hỏi, an ủi, và nâng đỡ tinh thần của tôi trong những tháng ngày thật cam go.


Sau hết, tôi xin mượn những dòng chữ chân thành nầy để cám ơn người vợ hiền của tôi; người lúc nào cũng khuyến khích, lo lắng và chăm sóc cho tôi ngày đêm. Vợ tôi đã mang đến cho tôi rất nhiều nghị lực, và "nàng" đã kiên trì, chịu đựng không biết bao nhiêu là gian nan, đúng với câu "đồng cam cộng khổ" cùng tôi trong những năm tháng dài chữa trị bệnh viêm gan C của tôi. Anh thành thật cám ơn Em và hai con.


Sự hỗ trợ tinh thần của gia đình và của tất cả bạn bè thân hữu trong gia đoạn tôi "vượt biên đi tìm tự do" thật là vô giá. Nhờ trãi qua cơn bệnh nầy, tôi đã tim lại được "tình người", "tình đồng hương", "tình đồng môn", và "tình bằng hữu" thật là sâu đậm và dễ thương mà bấy lâu nay tôi nghĩ là các tình nầy đã không còn hiện hữu trong cộng đồng Việt Nam tại hải ngoại.


Lời tâm sự cuối cùng là tôi thành thật cổ động tinh thần các bạn nào đã được bác sĩ "bật đèn xanh" để trị liệu, xin các bạn hãy mạnh dạn quyết định làm càng sớm càng tốt. Thời gian tính trong vấn đề nầy rất quan trọng, xin bạn đừng chờ nữa vì một số trong chúng ta đã chờ hơi lâu rồi. Đừng để lỡ "chuyến tầu", sau nầy hối tiếc thì đã muộn. Gia đình bạn và những người thân quen của bạn là những người sẽ cùng bạn "đi vượt biên", mọi người sẽ luôn luôn thông cảm và hỗ trợ tinh thần cho bạn. Bạn thật sự không lẻ loi đâu! Bạn còn có chúng tôi, những "cựu chiến binh" viêm gan C đã chiến đấu cho đến ngày tìm lại được "bến bờ tự do". Chúc bạn may mắn và thành công để sau nầy tiếp tay với chúng tôi để hỗ trợ tinh thần cho những người đi sau.


Little Saigon ngày 21 tháng 8 năm 2004


Phan Văn Tánh

Thứ Năm, 12 tháng 3, 2009

VIÊM GAN SIÊU VI C VÀ CÁC LOẠI GENOTYPES

Vi rút viêm gan C thành viên của họ Flaviviridae là một thể hình cầu có đường kính 45-65 nm, và có các vỏ ngoài với các mỏm nhô nhỏ khoảng 6 nm, bao quanh một nucleocapsid 30-35 nm có cấu trúc đối xứng 20 mặt. Bộ gen của vi rút viêm gan C là một chuỗi đơn RNA có cực tính dương, gồm khoảng 9400 nucleotide, được chia làm 3 vùng:
- Đầu 5’ không mã hóa ( non-cording region ) gồm 341-344 nucleotid. Đây là vùng ít biến đổi.
- Vùng được mã hóa nằm giữa hai đầu 5’ và 3’. Vùng này chỉ có một khung đọc mở duy nhất gồm 9379-9481 nucleotid.
- Đầu 3’ không mã hóa .
Các thể hình cầu HCV có mặt trong hệ tuần hoàn dưới dạng các phức hợp miễn dịch hoặc kết hợp với lipoprotein huyết thanh. Các mỏm nhô hình núm được cấu tạo bằng glycoprotein ở vỏ ngoài.

HCV Genotypes
Bộ gen HCV khá lỏng lẻo tạo nên bởi một men replicase nhiều sai sót vì NS5B RdRp không có chức năng đọc sửa và tích tụ các sai lầm trong RNA bộ gen HCV đang sao chép. Vì thế đặc tính khá quan trọng của HCV là tính không thuần nhất (heterogeneity).Tuy nhiên tính không thuần nhất di truyền này không phân bố đồng đều trên bộ gen:
+ Tính không thuần nhất cao ở vùng không mã hóa vỏ ngoài E1 (31-47%) và E2/NS1(29-43%), cao nhất ở đoạn vùng siêu biến 1 (HVR1) của E2 ( 50%).
+ Tính không thuần nhất thấp ở 5’URT (<10%), ở vùng lõi (12-19%) và ở vùng NS3(20-30%), có lẽ do chức năng quan trọng của vùng này nên không chịu được nhiều biến dị.
So sánh trình tự nucleotid của các HCV – RNA ở những người bị nhiễm HCV từ các vùng địa lý khác nhau người ta thấy có sự khác biệt giữa các chuỗi nucleotid của các virus VGC phân lập được. Tuỳ theo mức độ khác biệt này người ta phân loại theo các kiểu gen hoặc các kiểu phụ khác nhau:
-Khi có sự khác biệt >20% về trình tự các nucleotid ở các genom thì chúng thuộc các kiểu gen (genotype) khác nhau.
-Cùng một genotype nhưng có sự khác biệt <20% trình tự nucleotid thì được xếp thành các kiểu phụ khác nhau.
Sự xếp loại các kiểu gen (genotype) dựa trên so sánh các vùng khác nhau trên bộ gen. Nếu dựa vào vùng 5’ không mã hoá để so sánh thì có 6 kiểu gen, và 11 kiểu phụ khác nhau. Nếu dựa vào vùng gen E1 của 51 chủng phân lập khắp thế giới thì ít nhất có 12 kiểu gen khác nhau.

CÁC ĐẶC TRƯNG CỦA GENOTYPES
Những hiểu biết về HCV genotype rất quan trọng vì nó đóng vai trò trong dự đoán đáp ứng với điều trị, thời gian điều trị và liều điều trị của Ribavirin.

Phân bố theo địa dư:Các nghiên cứu trình tự và xác định kiểu gen chứng minh các kiểu phụ liên quan khá chặt chẽ và phân bố theo địa dư như sau:
- Kiểu 1a thường gặp ở Bắc Mỹ và Nam Mỹ, Australia.
- Kiểu 1b thường gặp ở Châu Âu và Châu Á .
- Kiểu 2a thường gặp ở Nhật và Trung quốc.
- Kiểu 2b thường gặp ở Mỹ và Bắc Âu.
- Kiểu 2c thường gặp ở Tây và Nam Âu.
- Kiểu 3a thường gặp ở Australia và Nam Á.
- Kiểu 4a thường gặp ở Ai cập và Zaire.
- Kiểu 4c thường gặp ở miền trung Châu Phi.
- Kiểu 5a thường gặp ở Nam Phi.
- Kiểu 6a thường gặp ở Nam Á.
- Kiểu 7a và 7b thường gặp ở Thái lan.
- Kiểu 8a, 8b và 9a thường gặp ở Việt nam.
- Kiểu 10a và 11a gặp ở Indonesia.
- Kiểu 1b, 2b và 2a chủ yếu gặp ở vùng Viễn đông và miền nam Châu Phi.
Dựa vào phân tích trình tự chuỗi, các biến dị HCV mới tìm thấy ở Việt nam và các nước Đông Nam Á khác được xếp vào các kiểu gen 7,8,9,10 và 11 mà bây giờ các nhóm 7,8,9 và 11 có thể được xếp vào kiểu 6a, và kiểu 10 vào kiểu 3a.

1- Genotype và nguy cơ lây nhiễm:Genotype 1b thường gặp ở bệnh nhân được truyền máu, genotype 3a thường gặp ở đối tượng tiêm chích ma túy. Hiện nay nhiễm vi rút C genotype 3a gia tăng do số người tiêm chích ma túy tăng lên, còn những người nhiễm HCV genotype 1b thì giảm do tiến bộ trong kỹ thuật truyền máu.

2- Genotype và mô học: Genotype 1b có nguy cơ vào HCC gấp 3 lần so với các genotype khác điều này được lý giải là do những người nhiễm genotype 1b thường sớm hơn những người nhiễm genotype 2 và 3 vài thập kỷ. Điều này cũng có thể áp dụng cho genotype 4 ở vùng Trung Đông. Các nghiên cứu ở Ý và Pháp lại thấy các tổn thương mô học độc lập với các Genotype.

3- Genotype và các bệnh tự miễn:Genotype 2a được cho có liên quan đến các bệnh lý như viêm gan tự miễn có anti-LKM1 (+), bệnh cryoglobulin huyết.

4- Genotype và dự đoán đáp ứng với điều trị:Thông tin về genotype rất quan trọng nó được sử dụng để dự đoán kết quả điều trị. Tỉ lệ đáp ứng kéo dài khi sử dụng Peginterferon kết hợp với Ribavirin thường cao hơn ở genotype 2, 3 so với genotype 1.

5- Genotype và đáp ứng điều trị : Genotype 1 được xem như là genotype khó khăn nhất với các liệu pháp điều trị hiện nay. Tuy nhiên tỉ lệ đáp ứng với điều trị khi sử dụng interferon mới là peginterferon kết hợp với ribavirin thì dường như tăng lên rõ rệt , > 50% đáp ứng kéo dài. Genotype 2 và 3 đáp ứng với điều trị hiện nay tốt hơn có thể lên đến 70%-90%. Có một vài bằng chứng đáp ứng với điều trị hiện nay ở bệnh nhân có genotype 2 tốt hơn bệnh nhân có genotype 3, nhưng điều nay cần thêm các nghiên cứu ngẫu nhiên lớn hơn để xác định lại. Lý do có sự liên quan giữa các genotype và đáp ứng với điều trị thì không được biết. Nhưng người ta nghĩ rằng các genotype vi rút viêm gan C khác nhau có thời gian sống khác nhau. Ví dụ như theo giả thiết thì genotype 2, 3 vi rút viêm gan C có đời sống ngắn hơn genotype 1, vì thế sự thải loại genotype 2, 3 thì dễ hơn genotype 1.

6- Genotype và thời gian điều trị :Genotype cũng là một yếu tố cần để xác định thời gian cần điều trị. Nói chung nếu genotype 1 thì thường điều trị 48 tuần, genotype 2, 3 thì cần 24 tuần, tuy nhiên có những nghiên cứu đang thực hiện xác định khoảng thời gian điều trị tốt nhất dựa vào các yếu tố nhất định. Ví dụ một vài chuyên gia tin rằng những bệnh nhân có genotype 1, nồng độ vi rút cao nên điều trị 72 tuần thay vì 48 tuần để đạt được tỉ lệ đáp ứng cao nhất. Có một vài nghiên cứu đánh giá thời gian điều trị cho genotype 2 là 12 tuần và genotype 3 là 48 tuần.

7- Genotype và liều lượng thuốc:Genptype cũng là một thông tin quan trọng để xác định liều lượng Ribavirin. Ví dụ những người có genotype 2,3 thì liều cho ribavirin là 800mg/ngày, ngược lại liều cho genotype 1 dựa vào trọng lượng cơ thể thường 1000mg-1200mg/ngày.

8- Genotype hỗn hợp:Một người có thể nhiễm hơn 1 loại genotype. Số liệu về genotype hỗn hợp thì hầu như hiện tại không ghi nhận, nhưng một vài chuyên gia tin rằng nó có thể ảnh hưởng tới đáp ứng điều trị và diễn tiến bệnh viêm gan vi rút C.

10-Gan nhiễm mỡ và genotype:Tình trạng gan nhiễm mỡ thì thường thấy ở bệnh nhân viêm gan vi rút C . Gan nhiễm mỡ góp phần vào diễn tiến của bệnh và đáp ứng kém với điều trị, mặc dù cơ chế thì chưa được hiểu một cách rõ ràng. Những người có genotype 3 có khả năng gan nhiễm mỡ nhiều hơn và genotype 3 là một yếu tố nguy cơ độc lập và đóng vai trò trực tiếp trong sự phát triển gan nhiễm mỡ.

11-Genotype và diễn tiến bệnh viêm gan vi rút C mạn tính:Về liên quan giữa genotype và diễn tiến bệnh gợi ý rằng genotype 1b liên quan với mức độ diễn tiến bệnh nặng hơn so với genotype 2, 3. Nhưng cần có nghiên cứu ngẫu nhiên lớn hơn để xác nhận điều này.

12-Genotype và ghép gan:Genotype 1 ( đặc biệt là genotype 1b) liên quan đến quá trình xơ hóa nhanh hơn ở những bệnh nhân đã ghép gan.

Mọi thắc mắc vui lòng xin liên hệ : 0973332733

VIÊM GAN SIÊU VI C MẠN VÀ CÁC PHƯƠNG ÁN ĐIỀU TRỊ

Cho đến năm 1998, việc trị liệu bằng một mình Interferon (đơn trị liệu) là phương pháp duy nhất được phê chuẩn để điều trị bệnh Viêm Gan Siêu Vi C mạn tính. Ngày nay, phác đồ chuẩn để điều trị bệnh Viêm Gan Siêu Vi C mạn tính là sự phối hợp giữa thuốc Pegylated Interferon (interferon duy trì lâu trong máu), và thuốc uống Ribavirin. Việc nghiên cứu vẫn trên đà phát triển để bào chế các loại thuốc mới và tốt hơn, như các loại thuốc ngăn cản chất men liên quan đến sự sinh trưởng của vi rút viêm gan C như ức chế men helicase và ức chế men protease , và các loại thuốc chống xơ gan như antifibrotic.Ngoài ra có một số phương pháp điều trị hỗ trợ khác (alternative) và bổ sung (complementary) để trị Viêm Gan Siêu Vi C mạn tính ; thí dụ như dùng cỏ gai (silymarin) và rễ cam-thảo (glycyrrhizin)

Những loại thuốc được Cơ Quan Thực Dược Phẩm (FDA) chấp nhận để điều trị Viêm Gan Siêu Vi C mạn tính là Interferon, Pegylated Interferon (duy trì lâu ở trong máu), và Ribavirin. Thuốc chích(tiêm) Interferon là sản phẩm bào chế dựa vào một số chất đạm của hệ thống miễn dịch được tìm thấy trong cơ thể. Thuốc chích(tiêm) Pegylated Interferon (PEG) là một loại Interferon có khả năng duy trì lâu dài do đó chỉ cần chích mỗi tuần một lần. Thuốc PEG duy trì một mức độ Interferon ổn định trong máu và có nhiều hiệu quả hơn để giảm khả năng sinh sản của vi rút viêm gan C. Ribarivin là thuốc uống chống siêu vi, được phối hợp với Interferon để điều trị Viêm Gan Siêu Vi C mạn tính. Nếu chỉ dùng riêng Ribarivin thì không có hiệu quả.

Điều trị chỉ với một mình Interferon Các hiệu thuốc Interferon trên thị trường thế giới hiện nay gồm có:
- Intron A (hãng Schering-Plough), ở Việt nam hiện tại không có.
- Infergen (hãng InterMune, Inc.), ở Việt nam hiện tại không có.
- Wellferon (Glaxo) ở Việt nam hiện tại không có.
- Alferon N (hãng ISI Pharmaceuticals) ở Việt nam hiện tại không có.
- Roferon A (hãng Roche) ( Giá hiện tại của công ty là 420 000 đ/ ống )
Interferon là thuốc chích cách ngày một ống kéo dài ít nhất là một năm. Theo sự dự đoán thì chỉ có 10% đến 20% các người có Vi rút viêm gan C dùng phương pháp điều trị Interferon một mình diệt được vi rút vĩnh viễn đến mức không phát hiện được. Phương pháp này dường như hiện nay không sử dụng nữa vì hiệu quả thấp.

Điều trị bằng Interferon phối hợp với Ribavirin
Theo các nghiên cứu cho thấy điều trị phối hợp Interferon (Roferon A, Heberon, Bioferon…) với Ribavirin thì hiệu quả hơn là điều trị với một mình Interferon.Cách sử dụng Roferon A là chích một ống 3,000,000 đơn vị Interferon cách ngày cộng với uống 1200 mg Ribavirin( 3 viên Ribavirin 400mg) hàng ngày. Mỗi viên Ribavirin có giá dao động từ 6000đ/viên đến 10000đ/viên tùy theo công ty sản xuất. Theo các nghiên cứu tỷ lệ trung bình của hiệu quả thuốc đối với vi rút là 28% đối với HCV loại 1 và 66% cho HCV loại 2 và 3.

Điều trị với một mình Pegylated Interferon
- Peg-Intron (hiện tại có ở Việt nam)Peg-Intron (peginterferon alpha 2b) là thuốc pegylated interferon (duy trì lâu trong máu) do hãng Schering bào chế.Giá của công ty hiện tại là 2.380.000đ/lọ hàm lượng 80mcg. Ðây là loại thuốc bột cần phải được pha và hòa chung với một chất lỏng trước khi được chích. Số lượng thuốc tùy vào cân nặng của mỗi người. Khi dùng môt mình pegylated interferon, hiệu quả thuốc đối với vi rút là 14% cho HCV loại 1, 47% cho HCV loại 2 & 3.
- Pegasys (hiện tại có ở Việt nam)Pegasys (peginterferon alpha 2a) là thuốc pegylated interferon (duy trì lâu trong máu) do hãng Roche bào chế.Giá của công ty hiện tại là 3.300.000đ/ống. Liều chuẩn cho mọi bệnh nhân là 180mcg. Loại thuốc này là dung dịch lỏng đã được pha sẵn. Hiệu quả thuốc đối với siêu vi là 28% cho HCV loại 1, 56% cho HCV loại 2 & 3. Pegasys cũng được chỉ định để chữa cho những người bị xơ gan nhẹ.

Điều trị bằng Pegylated Interferon phối hợp với Ribavirin Phối hợp thuốc Pegylated Interferon và Ribavirin hiện là phác đồ chuẩn để điều trị bệnh Viêm gan siêu vi C hiện nay. Hiện có 2 cách phối hợp Pegylated Interferon và Ribavirin được FDA phê chuẩn: thuốc pegylated interferon hiệu Peg-Intron của hãng Schering phối hợp với thuốc Ribavirin, và thuốc pegylated interferon hiệu Pegasys của hãng Roche phối hợp với thuốc Ribavirin .
Peg-Intron phối hợp với Ribavirin của hãng Schering. Hiệu quả thuốc đối với siêu vi của loại thuốc phối hợp này là 42% cho HCV loại 1 (30% nếu có số siêu vi cao), 82% cho HCV loại 2 & 3. Thời gian chữa trị cho HCV loại 1 là 12 tháng. đến 18 tháng tùy theo kiểu đáp ứng trong điều trị.
Pegasys phối hợp với Ribavirin của hãng Roche. Hiệu quả thuốc đối với siêu vi của loại thuốc phối hợp này là 46-51% cho HCV loại 1 (41-46% nếu có số siêu vi cao), 76-78% cho HCV loại 2 & 3. Thời gian chữa trị cho HCV loại 2 và 3 là 6 tháng đến 12 tháng tùy theo kiểu đáp ứng trong điều trị.
Chi phí cho từng phác đồ :

- Roferon A + Ribavirin :
Roferon A 3MIU: 15 ống x 420.000đ = 6.300.000đ / tháng
Ribavirin 0.4g : 60 viên x 9000đ = 540.000đ /tháng

- Pegintron + Ribavirin :
Pegintron 80mcg : 4 lọ x 2.380.000đ = 9.520.000đ / tháng
Ribavirin 0.4g : 60 viên x 9000đ = 540.000đ /tháng

- Pegasys + Ribavirin :
Pegasys 180mcg : 4 ống x 3.300.000đ = 13.200.000đ / tháng
Ribavirin 0.4g : 60 viên x 9000đ = 540.000đ /tháng

Mọi thắc mắc vui lòng xin liên hệ : 0973332733

Thứ Sáu, 28 tháng 11, 2008

CHỮA VIÊM GAN SIÊU VI : KHỔ DO MÙ MỜ THÔNG TIN

Chữa viêm gan siêu vi: Khổ do mù mờ thông tin
Diễn tiến của bệnh viêm gan siêu vi C.
Nghe nói đến viêm gan siêu vi, nhiều người không khỏi hoảng sợ vì liên tưởng đến những biến chứng của nó như xơ gan, ung thư gan. Do đó, khi biết mình nhiễm vi rút viêm gan, người ta thường quyết liệt chữa trị.
Tuy nhiên, không phải bệnh nhân nào cũng được thông tin đầy đủ, chính xác về chi phí, lợi ích, tác dụng phụ… trước khi bắt đầu một liệu trình tốn kém và phức tạp

Năm 2002, chị V.T.N., 42 tuổi, ngụ tại Q.3, TP.HCM, đi thử máu và bác sĩ cho biết chị bị viêm gan siêu vi C. Mang kết quả đi khắp nơi hỏi thăm, nhiều bác sĩ lại nói chưa có gì rõ ràng. Nhưng khi mang đến một cơ sở điều trị có tiếng, chị N. lại được bác sĩ đề nghị chữa trọn gói 6 tháng với chi phí… 10.000 USD và còn nói thêm nếu không chữa thì nguy cơ ung thư rất cao. Không kham nổi số tiền quá lớn, chị N. đành sống chung với bệnh, nhưng lúc nào cũng nơm nớp lo sợ.

Không phải giai đoạn nào cũng điều trị

Cách đây ba tháng, trên blog của chị, người ta có thể đọc được những dòng tâm sự: “Nhiều năm trời, tôi như mang trên người gông cùm, luôn hoang mang, lo lắng về những gì bác sĩ nói”. Tháng qua, tình cờ quen một bác sĩ nội khoa, chị N. được đề nghị làm xét nghiệm định tính vi rút C trong máu. Kết quả từ Pháp (với độ nhạy rất cao) gởi về cho thấy kết quả âm tính, không có vi rút trong máu. Thế là sau 6 năm, chị đã được giải thoát khỏi “gông cùm” bệnh tật.

Cố tình thông tin không đầy đủ hoặc cường điệu nguy cơ cho bệnh nhân đang là một thực trạng của giới điều trị hiện nay ở nước ta, đặc biệt trong lĩnh vực điều trị viêm gan siêu vi. Không phủ nhận viêm gan siêu vi là một vấn đề sức khoẻ cộng đồng hiện nay ở Việt Nam khi một số khảo sát cho thấy tỷ lệ người mắc viêm gan siêu vi B là 10 - 20% và siêu vi C 1,8 - 4%. Và cũng không phủ nhận nếu không điều trị, bệnh chuyển thành mạn tính, từ đó có thể biến chứng sang xơ gan hoặc ung thư gan sau một thời gian dài.

Tuy nhiên, theo khuyến cáo của các hiệp hội bệnh gan Hoa Kỳ, Âu châu, Đông Nam Á, chỉ một thiểu số bệnh nhân viêm gan siêu vi B có đáp ứng với thuốc đặc trị diệt siêu vi. Cụ thể, chỉ 5 - 10% dạng viêm gan siêu vi B mạn là có đáp ứng với thuốc đặc trị, 90% còn lại vi rút ở giai đoạn không hoạt động, có điều trị cũng vô ích vì mục tiêu điều trị cũng chỉ nhắm đến việc đưa bệnh đến giai đoạn không hoạt động là đã quá tốt.

Trong khi đó, đối với viêm gan siêu vi C, kết quả điều trị thường tốt và có nhiều lợi ích rõ rệt hơn so với điều trị viêm gan siêu vi B. Tuy nhiên, vì thuốc đắt tiền, nhiều tác dụng phụ và tỷ lệ lành bệnh không phải lúc nào cũng chắc chắn 100% nên có thể tạm trì hoãn điều trị nếu xét nghiệm cho thấy gan chưa bị xơ hoá nghiêm trọng (xác định bằng sinh thiết gan), bệnh nhân có những yếu tố tiên lượng đáp ứng không thật tối ưu (lớn tuổi, genotype 1, mập phì, có nhiều bệnh lý khác đi kèm…). Tuy nhiên, việc trì hoãn điều trị này vẫn phải được theo dõi sát sao để điều trị ngay bằng thuốc đặc trị một khi gan có diễn tiến xấu.

Tiến triển thật sự của viêm gan siêu vi

Theo TS.BS Đinh Dạ Lý Hương, chuyên khoa gan mật, đa số bệnh nhân nhiễm siêu vi C không thể tự loại trừ mầm bệnh khỏi cơ thể và trở thành người mang siêu vi C mạn tính. Trong đó, 25% bệnh nhân có men gan bình thường, chậm tiến triển sang viêm gan mạn và gan ít bị hư hại, được gọi là “người mang siêu vi C mạn không triệu chứng”. Số bệnh nhân còn lại chuyển thành viêm gan C mạn tính, và sau 10 - 20 năm, ít nhất 20% trong số họ sẽ bị xơ gan. Xơ gan sẽ sớm hơn nếu bệnh nhân uống rượu nhiều hoặc gan bị hư hại thêm do thuốc hoặc nhiễm thêm các siêu vi viêm gan khác như siêu vi B, D hay HIV. Còn đối với người nhiễm siêu vi B, chỉ có khoảng 10% số họ trở thành người mang siêu vi mạn. Khoảng 20% ca viêm gan B mạn tiến triển sang xơ gan và mỗi năm có 2,5% bệnh nhân này có nguy cơ bị ung thư gan.Khánh kiệt vì điều trị

Năm 2006, sau một đợt sốt, anh T.B.T., ngụ tại Bình Thạnh, TP.HCM xét nghiệm máu và phát hiện bị viêm gan siêu vi C mạn tính. Đến một bệnh viện chuyên khoa, anh được bác sĩ tư vấn: “Anh có tiền thế nào, tôi chữa anh thế đó(!?)”. Chọn một loại thuốc vừa túi tiền chữa trị, sau 6 tháng, kết quả thật ấn tượng với anh T. khi xét nghiệm vi rút trong máu từ 1,3 triệu con/đơn vị còn 100 ngàn con/đơn vị. Nhưng sau 12 tháng, xét nghiệm lại cho thấy vi rút bùng phát như cũ, chứng tỏ điều trị thất bại. Lẽ ra, nguy cơ thất bại này phải được đánh giá trước và trong khi điều trị để thông báo cho bệnh nhân, tránh tốn kém không cần thiết.

Trường hợp của anh C. tai hại hơn nhiều. Bị viêm gan siêu vi B mạn tính, anh được một bác sĩ gần nhà “tư vấn” chữa một loại thuốc đắt tiền, chi phí 1.000 USD/tháng, với cam đoan sẽ hết bệnh sau 6 tháng. Về nhà gom hết tiền bạc chỉ được 4.000 USD, anh quay lại bác sĩ, vị này cũng nhận chữa. Sau 4 tháng điều trị, khi ngưng thuốc, xét nghiệm lại anh C. thấy bệnh mình… vẫn như cũ.

Một bác sĩ lâu năm trong ngành gan mật tiết lộ, điều trị viêm gan siêu vi thường phức tạp và tốn kém nên phải cân nhắc thật kỹ. Tuy nhiên, do thiếu kiến thức hoặc muốn kiếm lợi, không ít bác sĩ đã chữa sai, vừa thiệt hại kinh tế cho bệnh nhân và còn có thể tạo ra tình trạng kháng thuốc.

TS. Trần Tịnh Hiền, Phó giám đốc bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới TP.HCM, cho biết: Cơ sở này tiếp nhận không ít trường hợp bệnh nhân bán nhà bán cửa để chữa viêm gan siêu vi ở phòng mạch tư. Khi hết tiền, bệnh nhân tìm đến cơ sở y tế công lập mới biết bệnh của mình thực tế không cần uống thuốc mà chỉ cần xét nghiệm máu đều đặn để theo dõi diễn tiến bệnh.

Trong thực tế, điều trị viêm gan siêu vi đang là một dịch vụ “hái ra tiền” cho không ít thầy thuốc. Trường hợp anh T. kể trên, sau một năm điều trị thất bại, anh đã đến khám một bác sĩ khác. Ở đây, hàng tuần anh được đề nghị chích một loại thuốc có giá khoảng 1.000 USD/tháng. Tuy nhiên, do có người thân làm ở công ty dược, anh mua thuốc chỉ với 900 USD. Như thế bác sĩ đã hưởng lợi ít nhất 10% từ việc bán thuốc đặc trị, chưa kể lợi nhuận từ việc kê toa hàng đống thuốc “mát gan”, “bổ gan”, “hạ men gan”… “vô thưởng vô phạt” cho bệnh nhân, nhưng lại… “có thưởng” cho bác sĩ.


Theo Phan Sơn báo Sài Gòn tiếp thị

Thứ Ba, 11 tháng 11, 2008

VIÊM GAN VI RÚT B MẠN TÍNH

Giới thiệu
Có khoảng 400 triệu người trên thế giới mang vi rút viêm gan B mạn tính. Việt nam là một trong những vùng có tỉ lệ lưu hành cao của tình trạng này. Hậu quả lâu dài của tình trạng nhiễm vi rút B mạn tính này là diễn tiến đến các bệnh gan giai đoạn cuối đe dọa tới tính mạng bệnh nhân như Xơ gan, Ung thư gan…


Diễn tiến tự nhiên của nhiễm vi rút B


Diễn tiến tự nhiên của nhiễm vi rút viêm gan B có thể chia 4 giai đoạn :
1-Giai đoạn dung nạp miễn dịch: Giai đoạn này có HBeAg (+), lượng vi rút trong máu cao ( > 20000 IU/mL [ khoảng 105
copies/mL ] ), men gan(ALT) bình thường, có nghĩa là men gan không tăng. Giai đoạn này thường hay gặp ở những người bị nhiễm lúc sinh hay tuổi nhỏ, còn ngược lại ít xảy ra ở những người bị nhiễm ở tuổi thanh niên hay trưởng thành.
2-Giai đoạn thanh thải miễn dịch: Giai đoạn này rất thay đổi , lượng vi rút trong máu vẫn cao , men gan(ALT) tăng kéo dài, hoặc lúc tăng lúc giảm, và có hình ảnh viêm mạn tính khi sinh thiết gan. Mất HBeAg và anti-HBe(+) (chuyển đổi huyết thanh HBeAg) xuất hiện tự nhiên trong 50%-70% trường hợp bệnh nhân sau 5-10 năm, kết quả là chuyển qua tình trạng mang HBsAg không hoạt động.
3-Giai đoạn mang HBsAg: Giai đoạn này đặc trưng bởi lượng vi rút < 2000 IU/mL (khoảng 104
copies/mL) hoặc không phát hiện được, men gan(ALT) bình thường.
4-Giai đoạn tái hoạt động: Tuy nhiên ở một số bệnh nhân dưới áp lực của miễn dịch trong giai đoạn chuyển đổi huyết thanh HBeAg hoặc trong giai đoạn mang HBsAg không hoạt động phát triển đột biến của vi rút ( precore hoặc core promoter ) không sản xuất được HBeAg nhưng vi rút vẫn nhân đôi nên số lượng tăng cao và gây nên tổn thương gan ở các mức độ khác nhau. Giai đoạn này gọi là viêm gan vi rút B mạn tính có HBeAg(-) và đặc trưng bởi sự dao động của số lượng vi rút trong máu, điển hình từ 2000-20.000.000 IU/mL (104-108
copies/mL), men gan (ALT) tăng kéo dài hoặc tăng dao động, và tổn thương gan tiến triển khi sinh thiết gan.


Đánh giá bệnh nhân nhiễm vi rút viêm gan B:

Đánh giá ban đầu bệnh nhân nhiễm vi rút viêm gan B bao gồm : Công thức máu, TQ, chức năng gan, lượng vi rút (HBV-DNA), HBeAg , anti-HBe, huyết thanh kháng viêm gan vi rút A, C, D, kháng thể kháng HIV với những người có yếu tố nguy cơ, AFP, siêu âm bụng, nếu cần có thể sinh thiết gan để đánh giá quyết định điều trị. Sinh thiết gan có ích trong những bệnh nhân >35 tuổi với men gan bình thường, khoảng 20%-30% những người này có xơ hóa gan mức độ 2.
Nồng độ vi rút có thể phát hiện ở mức < 10 UI/mL (50 copies/mL) bằng phương pháp phân tử, nên đượ thực hiện để đánh giá trước điều trị, theo dõi đáp ứng với điều trị, và theo dõi sự phát triển kháng thuốc trong quá trình điều trị. Đánh giá ban đầu cũng nên bao gồm HBV genotype, có giá trị để xác định diễn tiến tự nhiên so sánh giữa genotype B và genotype C thì genotype B có bệnh hoạt động ít hơn, chuyển đổi huyết thanh sớm hơn và tần suất vào ưng thư gan ít hơn. Ở những bệnh nhân da trắng genotype A đáp ứng tốt hơn với interferon hoặc Peginterferon so sánh với những người nhiễm genotype D. Những bệnh nhân Châu Á nhiễm HBV genotype B có thể đáp ứng tốt hơn những người nhiễm genotype C.


ĐIỀU TRỊ VIÊM GAN VI RÚT B MẠN TÍNH
Tiêu chuẩn điều trị:
Chẩn đoán VGSVB mạn khi có số lượng virut (HBV – DNA ) trong huyết thanh cao, men gan tăng (ALT) và viêm hoại tử khi sinh thiết gan. Theo đề nghị của các nhà lâm sàng Hoa Kì gần đây người ta xác định mức độ men gan bình thường để xem xét điều trị là trên 30 IU/ L ở nam và 19 IU /L ở nữ. Còn theo hướng dẫn của Hiệp Hội Gan Mật Hoa Kì ( AASLD ) gợi ý rằng men gan ( ALT ) nên tăng gấp đôi trước khi bắt đầu điều trị ngoại trừ sinh thiết gan chỉ ra rằng có diễn tiến bệnh. Điều trị hiện nay chỉ được giới thiệu cho những bệnh nhân ở giai đoạn thanh thải miễn dịch và tái hoạt động (HBV–DNA)
trên ngưỡng xác định cùng với men gan tăng trên giới hạn trên bình thường, và/ hoặc viêm hoại tử khi sinh thiết gan.

Mục tiêu điều trị
Mục tiêu đầu tiên của điều trị viêm gan siêu vi B mạn tính là ức chế kéo dài số lượng siêu vi (HBV – DNA ) điều này sẽ dẫn đến làm giảm diễn tiến tới xơ gan, suy gan và ung thư gan đã được chứng minh bởi nghiên cứu đoàn hệ lớn ở Đài Loan. Nghiên cứu này cho thấy rằng lượng vi rut ≥ 104
copeis/ mL (khoảng 2000 IU/ mL) thì liên quan đến sự phát triển xơ gan và ung thư gan nhiều hơn ở thập kỷ sau trong những bệnh nhân không điều trị ( JO lloeje – gastro – 2006 – 03 ). Một nghiên cứu ở năm 2004 cho thấy rằng trong những bệnh nhân xơ hóa gan tiến triển, điều trị lamivudine kéo dài làm giảm bệnh gan mất bù và tần xuất ung thư gan so với giả dược. Điều này chỉ ra rằng ức chế vi rút lâu dài bằng kháng vi rút có thể làm diễn tiến bệnh chậm lại. Những dấu hiệu xác định hiệu quả của điều trị bao gồm ức chế số lượng của vi rút thấp nhất và có thể không phát hiện, bình thường hóa men gan, cải thiện mô học, chuyển đổi huyết thanh HBeAg ở những bệnh nhân có HBeAg (+), và hiếm hơn có sự chuyển đổi huyết thanh HBsAg.

Phác đồ điều trị
Phác đồ điều trị này dựa vào những bằng chứng nghiên cứu, kinh nghiệm lâm sàng và những ý kiến đồng thuận của các chuyên gia và dựa trên những đề nghị hướng dẫn của Hội Gan Mật Hoa Kì ( AASLD), Hội Gan Mật Châu Âu ( EASL) và Hội Gan Mật Châu Á Thái Bình Dương (APASL)
Những thuốc điều trị viêm gan siêu vi B mạn tính hiện nay được chấp nhận bởi cơ quan quản lý thuốc và thực phẩm Hoa Kì (FDA) : Interferon alfa-2b ( 1991), Lamivudine (1998) Adefovir (2002) Entecavir ( 2005), Peginterferon alfa-2a ( 2005) và Telbivudine ( 2006). Hiện nay điều trị đơn trị liệu ban đầu được hướng dẫn bởi Hội Gan Mật Hoa Kì và các nhà lâm sàng Hoa Kì là các thuốc uống Adefovir, Entecavir và thuốc chích(tiêm)Peginterferon alfa-2a. Interferon alfa - 2b chuẩn hầu như dần được thay thế bởi Peginterferon alfa-2a và Lamivudine thì không được đề nghị như là lựa chọn đầu tay trong cộng đồng vì có tỷ lệ kháng thuốc cao, Telbivudine cũng vậy.


Điều trị ban đầu:
Mục đích đầu tiên của điều trị kháng vi rút là ức chế vi rút lâu dài và ổn định đến mức thấp nhất có thể. Theo phác đồ điều trị của các nhà lâm sàng Hoa Kì mới cập nhật đối với bệnh nhân viêm gan siêu vi B mạn tính có HBeAg (+) thì ngưỡng của HBV DNA để điều trị là ≥ 20,000 IU/mL cùng với tăng men gan (ALT) trên giới hạn trên bình thường (30 IU/L ở nam và 19 IU/L ở nữ) và /hoặc có viêm hoại tử trên sinh thiết gan (Bảng 1 ).

Bảng 1:Tiêu chuẩn điều trị bệnh nhân viêm gan siêu vi B mạn tính HBeAg (+) [US]

HBV – DNA < 20,000 IU/mL và men gan ALT bình thườngKhông điều trị nhưng theo dõi mỗi 6 đến 12 tháng
Xem xét điều trị ở những bệnh nhân có viêm hoại tử trên mô học ngay cả số lượng virus thấp.
•HBV – DNA > 20,000 IU/ mL và men gan ALT bình thường
Tỷ lệ HBeAg chuyển đổi huyết thanh thấp ở tất cả các bệnh nhân điều trị
Những bệnh nhân trẻ hơn thì thường ở giai đoạn dung nạp miễn dịch.
Xem xét sinh thiết gan đặc biệt ở những bệnh nhân lớn hơn 35 tuổi và điều trị nếu có viêm hoại tử. nếu không sinh thiết được theo dõi sự tăng lên của men gan.
Nếu điều trị, các thuốc uống Adefovir, Entecavir và thuốc chích (tiêm)Peginterferon alfa-2a thì được đề nghị. Thuốc uống Telbivudine có thể sử dụng ở những bệnh nhân không phát hiện được HBV – DNA ở tuần 24 của điều trị
•HBV – DNA ≥20,000 IU/mL và men gan ALT tăng
Các thuốc uống Adefovi, Entecavir và thuốc chích(tiêm) Peginterferon alfa-2a thì được đề nghị. Thuốc uống Telbivudine có thể sử dung ở những bệnh nhân không phát hiện được HBV – DNA ở tuần 24 của điều trị
Nếu bệnh nhân có số lượng vi rut cao thì các thuốc uống Adefovir, Entecavir hoặc Telbivudine thì được đề nghị hơn là thuốc chích(tiêm)Peginterferon alfa-2a.
•Thời gian điều trị tùy theo từng cá thể, tiếp tục 6 đến 12 tháng sau khi có chuyển đổi huyết thanh HBeAg (+) thành anti HBe (-) và HBV – DNA âm tính.


Bảng 2 :Tiêu chuẩn điều trị bệnh nhân viêm gan siêu vi B mạn HBeAg(+) của Hội Gan Mật Hoa Kì 2007 (AASLD)

•Những người điều trị
Bệnh nhân có HBV - DNA > 20,000 IU/ml và ALT > hai lần giới hạn trên bình thường
Xem xét sinh thiết gan nếu bệnh nhân lớn hơn 40 tuổi có men gan ALT lớn hơn từ một đến hai lần giới hạn trên bình thường (ALT ≥ 1-2 lần) và trong gia đình có người bị ung thư gan. Điều trị nếu không có chuyển đổi huyết thanh HBeAg.
•Thuốc được lựa chọn : Các thuốc uống adefovir, entecavir và thuốc chích Peginterferon alfa-2a
•Thời gian điều trị: tiếp tục 6 tháng sau khi có chuyển đổi huyết thanh HBeAg thành anti HBe.

Phác đồ điều trị của các nhà lâm sàng Hoa kì ở bệnh nhân viêm gan siêu vi B mạn có HBeAg (+) có thể so sánh với hướng dẫn của AASLD 2007 (Bảng 2). Sự khác nhau đầu tiên của hai hướng dẫn này là mức độ men gan để xác định đưa vào điều trị, hướng dẫn để sinh thiết khi cần thiết và khác biệt nhỏ nữa là xác định thời gian điều trị. Cả hai hướng dẫn đều chọn adefovir, entecavir và Peginterferon alfa-2a là là những thuốc lựa chọn đầu tay để điều trị bệnh nhân viêm gan B mạn tính HBeAg (+). Peginterferon alfa-2a, adefovir và entecavir được lựa chọn nhiều hơn lamivudin vì chúng cho thấy rằng khả năng ức chế mạnh hơn lamivudin trong những thử nghiệm ngẫu nhiên, và lamivudin thì bị hạn chế bởi tỷ lệ kháng thuốc ( JO – Lau – NEJM – 2005 – 06 ). Một cập nhật của phác đồ của các nhà lâm sàng Hoa Kì cũng bao gồm telbuvudine như một một khả năng điều trị đầu tay bởi vì tỷ lệ đáp ứng vi rút mạnh hơn và tỷ lệ kháng thuốc thấp hơn so với lamivudin. Tuy nhiên telbivudin có tỷ lệ kháng thuốc cao điều mà có thể giảm đến mức tối thiểu nếu HBV - DNA (-) sau 24 tuần điều trị. Vì thế bệnh nhân cần được theo dõikhi điều trị với telbivudin để xác định sự ức chế vi rút nhanh và mạnh. Khi đáp ứng không tốt, nếu phát hiện HBV - DNA sau 24 tuần điều trị thì nên đổi thuốc hoặc thêm vào một thuốc thứ 2 để tránh kháng thuốc
Những bệnh nhân viêm gan siêu vi B mạn HBeAg (-), với lượng vi rút ≥ 2000 IU/ ml thì được đề nghị trong phác đồ của các nhà lâm sàng Hoa Kì ( Bảng 3), trong khi lượng vi rút > 20,000 IU/ ml thì được đề nghị trong hướng dẫn của Hội Gan Mật Hoa Kì ( Bảng 4) vì những lý do như thế Các thuốc uống adefovir, entecavir, thuốc chích Peginterferon alfa-2a thì được lựa chọn đầu tay. Trong thực hành Peginterferon alfa-2a đã thay thế dần interferon chuẩn, lamivudine không được lựa chọn vì khả năng kháng thuốc cao; telbivudine có thể là lựa chọn nếu lượng vi rút không phát hiện trong huyết thanh sau 24 tuần điều trị.


Bảng 3: Tiêu chuẩn điều trị bệnh nhân viêm gan siêu vi B mạn tính HBeAg (-) [US]

HBV - DNA < 2000 IU/mL và men gan(ALT) bình thường.
-
-Không điều trị hầu hết là mang HBsAg (+), theo dõi mỗi 6-12 tháng
- Xem xét điều trị ở những bệnh nhân có viêm hoại tử trên mô học ngay cả số lượng virus thấp.

HBV – DNA ≥ 2000 UI/mL và men gan (ALT) bình thường
-
-Xem xét sinh thiết gan và điều trị nếu có viêm hoại tử. Nếu không sinh thiết được theo dõi sự tăng lên của men gan.
- Nếu điều trị thì các thuốc uống Adefovir, Entecavir và thuốc chích Peginterferon alfa-2a thì được đề nghị. Thuốc uống Terbivudin có thể sử dụng ở những bệnh nhân không phát hiện được HBV – DNA ở tuần 24 của điều trị

HBV – DNA ≥ 2000 IU/mL và men gan (ALT) tăng

- Nếu điều trị thì các thuốc uống Adefovir, Entecavir và thuốc chích Peginterferon alfa-2a thì được đề nghị. Thuốc uống Terbivudin có thể sử dụng ở những bệnh nhân không phát hiện được HBV – DNA ở tuần 24 của điều trị
- Thời gian điều trị thì lâu dài. Không biết trước được khi nào thì dừng.
Thời gian điều trị :Một năm cho điều trị Peginterfron, ngược lại nếu dùng thuốc uống thì lâu dài.


Bảng 4: Tiêu chuẩn điều trị bệnh nhân viêm gan mạn tính có HBeAg (-) của hội gan mật Hoa Kì (AASLD)

Bệnh nhân phải điều trị:
-Bệnh nhân có HBV DNA > 20.000 IU/mL và ALT > 2 lần giới hạn trên bình thường (30 ở nam, 19 ở nữ)
-Sinh thiết gan và điều trị nếu cần thiết đối với những bệnh nhân có HBV DNA ≥ 2000 IU/mL và men gan ALT 1-2 lần giới hạn trên bình thường.
Thuốc được lựa chọn: Adefovir, Entecavir, hoặc Peginterferon
Thời gian điều trị:
+ Điều trị với Peginterferon thì sử dụng 1 năm.
+ Điều trị lâu dài với các thuốc uống.


Mọi thắc mắc vui lòng xin liên hệ : 0973332733

Thứ Bảy, 25 tháng 10, 2008

SỰ QUAN TRỌNG VỀ ĐỘ NHẠY CỦA XÉT NGHIỆM HCV-RNA

Không phát hiện được vi rút viêm gan C trong máu khi điều trị, ngay cả khi sử dụng phương pháp xét nghiệm chuẩn định tính HCV-RNA (giới hạn phát hiện ≥ 50 IU/mL) thì không có nghĩa thực chất là đã hoàn toàn loại trừ hết vi rút khỏi máu. Bây giờ có phương pháp mới nhạy hơn đang được áp dụng (ví dụ như: Transcription-mediated amplification [TMA] hoặc real-time PCR với giới hạn phát hiện < 10 IU/mL), một tỉ lệ bệnh nhân có ý nghĩa phát hiện được có vi rút trong máu mà những người này trước đó không phát hiện được vi rút trong máu bằng phương pháp xét nghiệm chuẩn. Điều này gợi ý rằng những bệnh nhân tái phát có thể là những người mà trước đó không đáp ứng do nồng độ vi rút của họ thấp mà kỹ thuật trước kia không phát hiện được(số lượng vi rút ít còn lại).
Như vậy điều quan trọng là sự phát hiện số lượng vi rút ít còn lại tại tuần thứ 12 là một yếu tố dự đoán quan trọng của sự tái phát về sau. Morishima và cộng sự đã cung cấp bằng chứng tất cả những bệnh nhân phát hiện số lượng vi rút ít còn lại tại tuần thứ 12 mà vẫn còn phát hiện ở tuần thứ 20 thì đã tái phát. Sự sử dụng những xét nghiệm HCV RNA có độ nhạy cao để xác định chiến lược điều trị cụ thể thì vì thế không thể thiếu.


Mọi thắc mắc vui lòng xin liên hệ : 0973332733

Thứ Sáu, 24 tháng 10, 2008

CHỮA BỆNH Ở SINGAPORE : COI CHỪNG "CHÉM ĐẸP" !

Theo báo Thanh niên 24/10/2008 23:16

Có quá nhiều phàn nàn về việc tính phí vô tội vạ tại các bệnh viện tư ở Singapore, đến mức bác sĩ Lee Wei Ling, Giám đốc Viện Khoa học thần kinh quốc gia tại bệnh viện công Tan Tock Seng, đã lên tiếng yêu cầu khôi phục lại "Quy định về thu phí" ở bệnh viện tư bị bãi bỏ cách đây vài năm.
Bà Lee Wei Ling, chuyên gia về thần kinh, Giám đốc Viện Khoa học thần kinh quốc gia tại bệnh viện công Tan Tock Seng, cũng là em gái Thủ tướng Lý Hiển Long đã lên tiếng bằng một bài viết lớn trong mục "Cố vấn" (Think-tank) hằng tuần của báo Straits Times, tờ báo uy tín nhất Singapore, ngày 15.10. Theo bà Lee, trước năm 2006, Hiệp hội Y tế Singapore (SMA), tổ chức đại diện số đông bác sĩ tại tất cả bệnh viện công và tư của nước này, có một "Quy định về thu phí" (GoF) áp dụng tại các bệnh viện tư. GoF đưa ra biểu phí tham khảo cho công khám bệnh của bác sĩ cũng như các thủ thuật chẩn đoán, điều trị.
Theo đó, bác sĩ và bệnh viện có thể thu của bệnh nhân cao hơn mức tham khảo, nhưng việc đó phải được thông báo trước. Điều đó giúp bệnh nhân dự tính trước được chi phí để cân nhắc chọn lựa, cũng như có quyền mong đợi một kết quả mỹ mãn từ việc bị thu phí cao. Dù vậy, đôi khi vẫn có trường hợp bệnh nhân chỉ biết mình bị tính phí cao hơn mức của GoF khi nhận giấy báo tính tiền, và họ phàn nàn với SMA. Cơ quan này khi đó yêu cầu bác sĩ chứng minh khoản phí thu cao, nếu không thỏa đáng, bác sĩ bị yêu cầu trả lại phần thu vượt. GoF được áp dụng từ năm 1987, qua nhiều lần điều chỉnh, và góp phần đáng kể vào việc bảo vệ bệnh nhân.
Thế nhưng trong năm 2006, SMA bãi bỏ GoF với lập luận rằng quy định này mâu thuẫn với Luật cạnh tranh. "Nực cười là mục tiêu của Luật cạnh tranh là nhằm bảo vệ người tiêu dùng khỏi việc trả giá quá cao bằng cách để thị trường định giá. Và GoF được thiết kế đúng mục tiêu đó, bởi bác sĩ và bệnh nhân là hai đối tượng không bình đẳng trong việc nắm giữ thông tin", bà Lee lý luận về sự cần thiết của GoF.
Theo bà, cơ chế định giá theo thị trường tự do chỉ hiệu quả khi người bán và người mua nắm thông tin ngang nhau. Rõ ràng trong lĩnh vực y tế, bác sĩ nắm giữ nhiều thông tin hơn, và vì thế dịch vụ y tế không thể được coi như những hàng hóa khác. Phần lớn bệnh nhân không có điều kiện, thời gian để tìm hiểu về bác sĩ, bệnh viện và giá cả mỗi nơi ra sao khi họ ngã bệnh. Bệnh nhân nước ngoài thì càng hạn chế về điều này. Bác sĩ, vì vậy, nắm quyền định đoạt đối với bệnh nhân.
Từ khi GoF mất hiệu lực, việc tính phí của bác sĩ ở bệnh viện tư diễn ra tùy tiện. "Bác sĩ bây giờ thu phí cao đến mức nào mà họ nghĩ họ có thể "vắt" được từ bệnh nhân. Thường thì mức thu phụ thuộc bề ngoài của bệnh nhân như áo quần, trang sức, bệnh nhân có mua bảo hiểm y tế hay không. Bệnh nhân nước ngoài lại càng là đối tượng bị "chém đẹp" bởi họ không có nhiều thông tin", bà Lee nêu thực trạng như vậy. "Tôi từng trực tiếp nghe một bệnh nhân Indonesia than phiền là phải trả 100.000 SGD cho việc phẫu thuật cắt bỏ túi mật, thủ thuật khá đơn giản này thông thường có giá chỉ 10.000 SGD. Đã có quá đủ những trường hợp đáng xấu hổ như vậy xảy ra, và một số bệnh viện tư đã "nổi tiếng" vì việc này", bà Lee viết. Bà Lee cũng đề cập trường hợp bác sĩ yêu cầu bệnh nhân thực hiện các xét nghiệm, chụp phim không cần thiết, mà bệnh nhân thì không thể từ chối. Ở bệnh viện công, các loại phí do Bộ Y tế quy định, vì vậy bác sĩ không thể tùy tiện đối với bệnh nhân.
Bà Lee còn nói rằng: "Chính phủ đang muốn quảng bá dịch vụ du lịch y tế. Nhưng tin xấu về việc lạm thu của các bệnh viện đang lan truyền nhanh chóng ở nước ngoài. Lòng tham sẽ giết chết "con ngỗng vàng" du lịch y tế trước khi nó kịp đẻ trứng". Bà cũng nói rằng việc lạm thu của những bác sĩ lớp trước sẽ gây hại đến những thế hệ bác sĩ trẻ khi họ đi vào những bệnh viện tư. Đã có một sự xuống dốc về y đức. Không chỉ lạm thu, các bác sĩ còn cố tình giới thiệu bệnh nhân đến những bác sĩ quen biết của mình để thực hiện những xét nghiệm, những điều trị đắt tiền, không cần thiết, thậm chí gây hại cho bệnh nhân.

Thục Minh (Văn phòng Singapore)